Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2009

Nhớ rừng

Đọc bài kể chuyện KV cùng mấy bạn phượt rừng về thăm lại Trường sơn, mình lại thấy nhớ rừng, nhớ TS quá. Nghe nói KV đang phải ăn gạo lứt muối mè mà vẫn phượt rừng được, sướng thật. Nhớ ngày nào còn tụ tập nhau uống bia Li phoc ở Lăng cha cả mà hôm nay nhìn ảnh KV chống gậy leo rừng trông giống tư lệnh chiến trường quá. Những ngày ở TS đã lùi vào dĩ vãng gần 40 năm rồi mà sao nỗi nhớ TS cứ bỗng chốc lại ập về, nhớ đến nao lòng. Phải chăng nơi đó không chỉ là nơi một thời trai trẻ tụi mình đã sống và chiến đấu ở đó, mà có lẽ nơi đó còn là nơi đã cho ta cuộc sống ngày hôm nay. Giá ngày đó... thì còn đâu hôm nay để mà nhớ mà nghĩ về TS, về bạn bè đồng đội. TS chính là nơi đã che chở ta, đã trả về cho ta cuộc sống hôm nay. Đó là một niềm hạnh phúc vô biên cho những ai đã qua đó mà còn có cuộc sống hôm nay. Giữa TS bao la còn có bạn bè mình đang nằm lại ở đó. Mỗi lần xem những hình ảnh các bạn đi tìm mộ YHòa ở TS, mình vô cùng xúc động. Có lúc mình thầm nghĩ, sự may mắn của mình phải chăng trong đó có sự phù hộ của bạn bè mình, những người đã nằm xuống ở TS. Mình không cường điệu hóa suy nghĩ và cảm xúc của mình, nhưng quả thật mình vẫn luôn nghĩ như vậy để tự động viên mình, để tri ân bè bạn.
Lâu nay mình vẫn thầm ước mong có một dịp nào đó được đi thăm lại TS, thăm lại những nơi mình đã từng ở đó: Động Ông Do, núi Chu nga, khe Ba lang, sông Ba lòng và những làng xóm mình đã từng đi qua và ở đó những ngày ngắn ngủi trong chặng đường hành quân năm xưa. Có lẽ đó là ước mơ chung của những người lính đã qua một thời trận mạc, nhưng không ai cũng có thể thưc hiện được ước mơ ấy, và vì thế mà nỗi nhớ càng thêm canh cánh trong lòng...

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009

Ban LL K8 HN thông báo, mời gặp mặt

Đưa 2 hình gặp mặt 22-12 năm ngoái chỉ để làm minh họa: 1. Tại CLB QĐ (HN) và 2. Lương Sơn, Hòa Bình.
Mời các Bạn và các anh các khóa trên đến dự buổi gặp mặt hàng năm của K8
- Từ 9 giờ sáng, ngày Thứ 7, 19-12-2009;
- Địa điểm: 281 Đội Cấn, Hà Nội (nhà hàng Pacific, hay còn gọi là "Vườn Treo", ngõ rộng đối diện ks La Thành, có chỗ rộng để xe).
- Nội dung:
+ Gặp mặt, tâm sự, giới thiệu bạn mới, bạn xa về, chuyện Blog Uttroi, BanTroi, văn nghệ;
+ Ban LL báo cáo về: Hoạt động 2009, Danh sách khóa, Quĩ khóa; Bầu BLL mới;
+ Ăn trưa;
+ Hoạt động văn hóa khác. Nếu có nhu cầu về thăm Trung Hà, BLL sẽ thu xếp, có thể đi vào ngày hôm sau;
Ban LL HN (BChuẩn B5, TrDũng B6, QVinh B3, QHà B1, TTùng B4, BThắng B2)
Note: "Mõ" các B (nêu trên) gọi điện, nhắn tin cho các bạn!!!

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009

Mafia bị bắt cóc.

Từ một số thông tin ít ỏi về Mafia, không phải "anh tẹc pôn" mà là một "anh tẹc" blogger đã gõ ra các thông tin tiếp theo, đáng kể là thành phố Mafia đang sống và địa điểm nơi ở và làm việc của "hắng". Để tiếp cận và gây bất ngờ, hai nhóm bloggers đi từ hai hướng Hà Nội và Sài Gòn bằng những phương tiện khác nhau tập kết tới cố đô cùng lúc đúng 8h sáng. Không có khó khăn khi triển khai và tiếp xúc nhưng Mafia có thể ngạc nhiên nhưng không hề bất ngờ khi gặp chúng tôi.
Một nụ cười thật tươi: "Em chộ hình trên blog rồi", xuất hiện trước mắt là một người ta với nụ cười thiện cảm và giọng nói Huế âm trầm sâu lắng lạ, nhẹ nhàng ấm áp hết cả cõi lòng. Không cần phải bắt cóc, hẹn 5h chiều Mafia sẽ có mặt.

Đó là một buổi chiều cuối tuần vui vẻ ở cố đô Huế mộng mơ, nhóm blogger ma cũ chúng tôi có Hòa Bình, EGK9, KV, ĐN, Thủy k9 và Quế Mafia đã có một buổi gặp gỡ và giao lưu. Mọi người gặp nhau và trò chuyện khá nhiều, vui nhất có lẽ là EGK9, người ở rất xa nhưng cũng rất thường xuyên trên blog, cũng là người tìm và tổ chức buổi gặp mặt hôm nay. Ra là mọi người có mối quan hệ gần, rất thân mà chưa có dịp gặp lại nhau, Mafia còn là "ráo" của mấy đứa cháu ở nhà EG mới tốt nghiệp đại học.
Hà Nội Huế Sài Gòn tưởng xa mà cũng thật gần mọi người nhỉ.

-Ảnh 1: Chuẩn bị tập kích.
-Ảnh 2: Vui vẻ.
- Chộ: nhìn thấy, hắng: đại từ nhân xưng ngôi thứ 3 có vẻ thân mật.

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2009

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2009

Một lần lạc rừng

Mỗi lần đọc mấy vần thơ của Lê Bá Dương:

Đò lên Thạch Hãn ơi...chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sông nước

Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.

Mình lại tràn dâng nỗi xúc động nhớ về bạn bè những ngày chiến đấu, nhớ đến Y Hòa, đến Tất Thắng. Ngày đó mấy đứa bọn mình đều ở chiến trường Quảng trị nhưng có được gặp nhau đâu, mặt trận rộng mênh mông, chiến trường bao cách trở. Hùng Thắng chèo thuyền ở sông Ba lòng (Hà Hùng Thắng K6, có em trai là Hà Thanh Bình K8), Tất Thắng ở động Ông Gio, mình ở khe Ba lang, còn Y Hòa ở đâu mình cũng không rõ nữa. Lính Trỗi bọn ta có nhiều người đi bộ đội, cũng có khá nhiều người vào chiến trường, mỗi người một hoàn cảnh, một gian khổ khác nhau và cũng có những kỷ niệm sâu sắc của những ngày ở chiến trường. Có lẽ mọi người đều thầm nghĩ rằng, những ai đã qua một thời máu lửa ấy, còn được sống trở về nguyên vẹn đến hôm nay, quả là một hạnh phúc lớn lao, làm sao ta có thể quên được những người bạn của chúng ta đã nằm xuống trên những cánh rừng, con suối , dòng sông chiến trường. Có những người đã tìm được hài cốt, nhưng cũng có những người "có tuổi hai mươi thành sông nước, vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm". Chiến công không nhiều, thành tích không bao nhiêu, nhưng những ai đã từng trải qua chiến đấu ở mặt trận cũng đều có thể tự hào về một thời trai trẻ đã không đắn đo , dám chấp nhận thử thách, dũng cảm lên đường ra mặt trận, bình thản đối mặt với gian khổ, hy sinh. Những trang hồi tưởng của những người đang sống viết lại, không phải là để khoe khoang, tự mãn mà là để chia sẻ cùng bạn bè, là những lời tri ân với những người đã mất. Thời gian ở chiến trường của mình không nhiều nhưng cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Hồi đó, dù vất vả, khó khăn, nhưng những lúc rỗi mình lại tranh thủ ghi nhật ký, làm thơ. Hôm nay mình muốn kể lại kỷ niệm của một lần lạc rừng, mà suýt nữa mình đã trở thành tù binh của địch. Ngày đó, mình là lính trinh sát của tiểu đoàn 17 công binh, sư đoàn 312, thường đi cùng ban chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng của mình là một người rất trẻ, anh Cao Xuân Chinh chỉ mới 24 tuổi, xông xáo, nhanh nhẹn, theo cho kịp anh cũng rất mệt. Chính trị viên tiểu đoàn là anh Huân, lớn tuổi hơn và sức khỏe cũng yếu hơn. Lần đó đơn vị mình có lệnh di chuyển đến một địa điểm mới. Lúc này CTV đang bị ốm nên phải ở lại đi sau. Mình được phân công ở lại chăm sóc và đi cùng CTV. Một buổi chiều, khi CTV đã khỏe, bọn mình lên đường đi tìm đơn vị. Ký hiệu chỉ đường của bộ phận đi trước thường là khắc dấu vào thân cây rừng hoặc bẻ gãy cành cây về hướng rẽ. Tuy nhiên nhiều đơn vị cùng hành quân trên cùng một tuyến giao liên. nên cũng rất hay nhầm lẫn. Chiều hôm đó, chính mình cũng đã bị nhầm hướng. Khi bị mất dấu vết, mình mải đi tìm kiếm nên khi CTV mệt ngồi lại mà mình không hay. Quay lại tìm thì không thấy CTV đâu nữa, lúc này trời cũng đã sẫm tối, và thế là mình và CTV lại lạc nhau luôn. Nơi đây đã rất gần địch, nên không giám bắn chỉ thiên, gọi thì cũng không thể nghe được. Rừng núi Trường sơn thì bạt ngàn âm u, chỉ quanh quẩn đây thôi, nhưng cũng thật khó mà tìm nhau. Không thể định vị được phương hướng, cũng không xác định được đây đã là khu vực của địch chưa, càng đi càng lạc vào rừng sâu. Lúc này mình đành quyết định ngủ lại ở rừng chờ trời sáng. Loay hoay mò mẫm tìm cách mắc võng, leo lên nằm, súng AK lên đạn sẵn, nhưng vẫn thấy không yên tâm. Mình cố trấn tĩnh, nhưng cái cảm giác sờ sợ vẫn khó xua đi được. Vừa lo sợ rắn rết, thú rừng, vừa sợ biệt kích thám báo địch, vì ở khu vực này bọn mình đã được báo là rất gần địch. Nằm một lát không yên, mình lại cuốn võng đi xuống khe suối, đi vậy thôi chứ cũng chằng biết sẽ ra sao. Mình cứ lội dọc con suối cạn cũng chính là con đường 15N. Vừa đi tay vừa đặt vào cò súng. Đi một lát mình bắt gặp một căn hầm chữ A ven suối, định vào đó nghỉ qua đêm, thì nghe thấy có tiếng người, mình vừa mừng vừa sợ. Biết đâu đó lại là bọn biệt kích thám báo, vì khu vực này bọn chúng thường nống ra thăm dò. Nếu là bọn chúng thì chắc chắn mình sẽ rơi vào tay giặc. Mình đã thoáng nghĩ đến cảnh rơi vào tay giặc, không biết mình sẽ ra sao nữa? Bọn mình đã từng đọc các truyền đơn của địch về những lời đầu thú của các chiến sĩ Việt cộng là con em cán bộ cao cấp khi rơi vào tay giặc. Mình định quay đi, nhưng đúng lúc đó thì có người trong hầm ra và gọi: Ai đó? Nghe thấy giọng miền Bắc, mình thoáng mừng và bình tĩnh trả lời : Tôi bị lạc đơn vị, rồi đến gần, nói với nhau vài câu và nhận ra đều là bộ đội cả. Đêm đó bọn mình thay nhau vừa ngủ vừa canh chừng, nhưng rồi cũng không ai ngủ được vì vẫn cảnh giác nhau, biết đâu đấy! Nhưng rồi đêm cũng qua đi, bọn mình lại lên đường đi tìm đơn vị của mình. Đến gần trưa thì bất ngờ gặp được một đơn vị đang hành quân, mình nhập vào đi cùng. Rất may là đơn vị đó cũng đi về khe Ba lang nơi sư đoàn bộ đóng quân, và sau mấy ngày thì mình tìm được đơn vị. Mừng quá đỗi. Chính trị viên cũng đã về được đơn vị. Gặp lại nhau mới biết là CTV cũng đã trải qua một đêm trong rừng căng thẳng không kém mình, và sau đó cũng nhập vào một đơn vị bạn để tìm về đơn vị. Giờ đây nghĩ lại đêm lạc rừng hôm đó mà vẫn thấy bàng hoàng. Các bạn nghĩ xem, ngày đó Vygo của các bạn mà rơi vào tay địch thì giờ đây sẽ ra sao nhỉ? Một kỷ niệm thật đáng nhớ phải không các bạn!

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Tháng12 và những dấu ấn (tiếp)

Mình lại viết tiếp những kỷ niệm của tháng 12. Trước hết xin cám ơn Đỗ Nghĩa đã gửi thêm ảnh cho bài viết của mình. Bức ảnh chụp 4 người: Hoàng Thành. Hòa Bình, Tất Thắng, Đỗ Nghĩa đẹp quá, chỉ tiếc rằng Tất Thắng của chúng ta không còn nữa. Mình và Tất Thắng cũng nhiều kỷ niệm lắm, có những kỷ niệm Đạt đã nói rồi, hôm nay mình sẽ nói thêm. Hồi ở Bái Nai, có một tiệm chụp ảnh đen trắng, hầu như tụi lính bọn mình đứa nào cũng có những tấm ảnh kỷ niệm được chụp ở đó, mà tấm ảnh phổ biến nhất là cậu lính khoác AK trước ngực đứng rất hiên ngang. Mình còn giữ nhiều ảnh lắm, nhưng chua có cách nào để đưa lên.
Hối đó, những ngày huấn luyện ở Bái Nai, thực sự là những ngày rèn luyện rất vất vả. Ngoài việc học tập về kỹ chiến thuật thì chuyện báo động ban đêm, hành quân mang ba lô đựng đầy đá leo dốc Cun (gần thị xã Hòa bình), vào rừng lấy củi, thay nhau làm anh nuôi, đứng gác giữa đêm đông giá rét của rừng núi Hòa bình...diễn ra cáp tập để chuẩn bị tư thế, thể lực, bản lĩnh cho việc hành quân đi B sau này. Những ngày nghỉ, bọn mình chủ yếu là vào bản mua sắn (củ mì), mía, kẹo dồi, xôi, chuối để ăn, chứ chẳng có gì hơn. Phụ cấp tân binh hồi đó chỉ có 5 đồng, vậy mà mình tiêu vẫn không hết. Nơi huấn luyện cách Hà nội chỉ có khoảng 40 km, nhưng suốt 5 tháng ở đó mình không hề về nhà lẩn nào. Không biết các chiến hữu khác có trốn về lần nào không? Cho đến ngày chuẩn bị đi B mình mới được về nhà mấy ngày để chia tay gia đình và người thân. Lúc này Hà nội đã đi sơ tán vắng hoe. Từ ngày 16/4/1972 giặc Mỹ quay trở lại bắn phá miền Bắc, bạn bè lớp mình đều đã đi sơ tán về các tỉnh để ôn thi đại học. Đến nhà ai cũng không gặp, tràn ngập một không khí vắng lạnh, bâng khuâng. Cho đến giờ mình vẫn không thể quên được cái cảm giác khi đến nhà cô bạn cùng lớp ở phố Bát sứ, vừa leo lên gác thì nhìn thấy ngay dòng chữ ghi trên cánh cửa : Nhà đi sơ tán! Chao ôi, một nỗi buồn mang mác bỗng ập về. Mấy ngày nữa mình đã vào Nam rồi, liệu biết bao giờ mới gặp lại...đây? Hồi đó khi còn học ở lớp, quả thật mình chưa biết yêu, nhưng khi đi bộ đội rồi, qua thư từ mới xuất hiện những rung động của một thứ tình cảm thân thiết, trìu mến hơn tình bạn, nhưng cũng chưa hẳn là tình yêu. Mình để lại mấy dòng tạm biệt ròi ra đi, vào chiến trường luôn mong ngóng hồi âm, nhưng...chẳng có gì! Sau này mỗi lần họp lớp mình cứ muốn nói với cô bạn rằng: bạn chính là người con gái đầu tiên đã đem đến cho mình cái cảm giác bâng khuâng lạ lùng ấy, và cho đến bây giờ mình vẫn luôn ấp ủ nó, nhưng rồi vẫn cứ ngại ngùng không sao nói được ! Tạm biệt Hà nội và gia đình trở về đơn vị, không khí sôi động chuẩn bị cho những ngày hành quân đi chiến trường lại nhanh chóng xua đi những phút giây xao động, bâng khuâng ấy...

Máy của mình không hiểu sao rất hay trục trặc, đôi khi vào các trang web khác thì được nhưng vào Ut Trỗi thì lại không được, nên nhiều khi định viết lại đành thôi.
Tháng 5/1972 bọn mình chính thức nhận lệnh đi B. Cho đến bây giờ mình vẫn không cắt nghĩa được vì sao hồi đó bọn mình lại say việc đi bộ đội, đi chiến trường đến thế. Mà Tất Thắng là người say nhất. Hồi đó cũng không hẳn là có một động cơ thật rõ ràng, đi là đi thôi, không nghĩ gì đến gian khổ, chẳng nghĩ đến chuyện sống chết ra sao, cũng không hình dung ra mặt trận rồi sẽ như thế nào. Không buồn, không lo lắng, chỉ có háo hức đi. Trong 4 đứa cùng khu tập thể đi lính cùng đợt, nhưng chỉ có mình và 2 Thắng cùng đi B một lần, Đạt hình như chuyển đơn vị khác, cả Ngô Thái Hòa cũng vậy (NTHòa nhà ở cùng Khu 5b HHT với Y Hòa). Đường hành quân từ Hòa bình vào đến Vĩnh linh khoảng 600 km, có chặng đi tàu hỏa, có chặng đi ô tô, nhưng chủ yếu là đi bộ. Những ngày hành quân từ Bắc vào Nam qua rất nhiều binh trạm, nhiều làng xóm, tỉnh thành, nếm trải biết bao cực nhọc, ghi nhận biết bao ký ức, kỷ niệm. Ngày đó mình gầy yếu lắm, chỉ có 42kg, nhưng hành quân không biết mệt, chẳng bao giờ rớt lại phía sau. Là tiểu đội trưởng nên lúc nào mình cũng phải mang thêm phần gạo, xoong chảo cho tiểu đội. Hành quân cứ ngày nghi, đêm đi. Mỗi chặng hành quân là qua một binh trạm. Hòa bình - Thường tín - Ninh bình - Thanh hóa - Nam đàn (Nghệ an) - Đức thọ (Hà tĩnh) - Quảng ninh, Hương hóa (Quảng bình). Chặng cuối cùng trên đất Bắc dừng chân ở Bãi Hà- Vĩnh linh để chuẩn bị vượt sông Bến hải ở thượng nguồn để vào Quảng trị.
Mình nhớ mãi lần vượt sông năm ấy. Tháng 7 đang là mùa mưa lũ ở miền Trung, nước ở thượng nguồn sông Bến hải chảy rất xiết. Toàn đơn vị phải tự bơi qua sông, không có thuyền đò. Hồi đó mình hầu như chưa biết bơi. Lúc còn đi học ở Hà nội, thỉnh thoảng đạp xe ra Quảng bá tắm, nhưng cũng chẳng tập bơi được là bao. Vậy mà đứng trước dòng sông chảy xiết mình cũng phải liều bơi qua. Quần áo, dày dép, gạo, súng đạn gói cả vào một túi ni lông cột thặt thành chiếc phao, nắm chặt lấy, lao ra dòng nước xiết, đạp chân tung tóe vừa trôi theo dòng nước, vừa sang ngang và cũng đến bờ bên kia một cách an toàn. Thật là hú vía! Giờ đây bọn mình đã thật sự ở trên mảnh đất của chiến trường Quảng trị rồi. Ai cũng đã từng nghe nói đến sự khốc liệt của chiến trường Quảng trị mùa hè 1972. Ở mặt trận B5, cả mình và 2 Thắng đều ở cùng sư đoàn 312 và cùng tiểu đoàn 17 Công binh, nhưng mỗi đứa ở một bộ phận khác nhau. Tất Thắng ở đơn vị chiến đấu, Hùng Thắng đảm bảo bến vượt sông, còn mình ở tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn Công binh, hầu như chẳng gặp nhau. Tiểu đoàn Công binh chuyên làm đường, chở phà, làm hầm cho sở chỉ huy Sư đoàn. Mình là lính trinh sát nên mỗi lần đến một địa điểm mới là phải đi tìm vị trí sở chỉ huy, sau đó là tham gia làm hầm SCH, một công việc vô cùng nặng nhọc và vất vả. Mùa mưa ở Quảng trị tầm tã, bọn mình đi từ cánh rừng này sang cánh rừng khác để chặt cây làm hầm, cây phải to, thẳng, dài mới làm hầm SCH được, vừa vác gỗ, vừa trơn trượt, ngã lên ngã xuống. Làm hết ngày này sang ngày khác, không biết mệt là gì. Có khi giữa trời mưa tầm tã, chỉ mặc chiếc quần đùi, khoác trên mình chiếc vỏ bao gạo Trung quốc thay cho áo mưa, lạnh run người, nhưng vẫn vác những cây gỗ to nặng trĩu lên xuống dốc băng băng, may mà cũng chẳng ốm ngày nào. Cơm ăn thì không đói nhưng thức ăn thì rất kham khổ, chủ yếu là thịt hộp Trung quốc, lương khô Trung quốc. Những lần đi chặt cây làm hầm bọn mình thường tranh thủ hái măng rừng về ngâm chua rồi nấu với thịt hộp hoặc hái rau môn thục ven suối, bắt cua, cá nấu ăn. Giờ nghĩ lại, sao thấy mình hồi đó rất gầy yếu mà sao lại khỏe đến vậy. Nhiệm vụ cứ cuốn hút người lính, quên cả bom đạn , quên cả gian khổ. Sư đoàn 312 hoạt động chủ yếu ở quanh khu vực núi Chua nga, động Ông gio, khe Ba lang. Tuy cường độ bom đạn không cấp tập như ở thành cổ, nhưng hầu như ngày nào cũng có bom rơi, đạn nổ, dần nó đã thành quen, chẳng biết sợ là gì. Những ngày tháng 12 ở Quảng trị rét lắm, mưa tầm mưa tã, có khi ở trong hầm chữ A, có khi nằm trên võng căng tăng (nhưtấm ni lông) che mưa, đêm lạnh thấu xương, không ngủ được, lại nôn nao nhớ về Hà nội, nhớ gia đình, bạn bè. Cũng chẳng nghĩ là bao giờ được ra Bắc. Khi nghe tin Mỹ mở chiến dịch đưa B52 ồ ạt ném bom hủy diệt Hà nội (chiến dịch 12 ngày đêm từ 18/12 đến 30/12/1972), nằm trên võng nghe đài mà nhớ Hà nội đến nôn nao. Cái cảm giác ấy đến giờ vẫn không quên. Mình không ở Hà nội nhiều, nhưng lúc ấy nỗi nhớ Hà nội, nhớ gia đình, nhớ bạn bè trường Trỗi, bạn bè lớp 10A Ba đình sao mà gia diết đến thế! Ở chiến trường, bọn mình cũng không thể hình dung hết Hà nội bị tàn phá ra sao nữa. Một thời gian sau đó, thì hiệp định Pari được ký kết. Mọi người òa lên vui sướng, reo hò. Vài tháng sau, ba đứa bọn mình được tin chuẩn bị ra Bắc đi học. (còn tiếp)

Thông báo mới K8 HN

1. Phan Hồng Việt k8 b4 đang sống ở Đức. Bạn (ngày xưa có tên Việt tac) mới liên lạc được với BuiVietSon k8 b6, thông báo hiện đang sống tại Germany, số đt mobile: +49-15209895654, home: +49-230783424. Qua blog Uttroi, bạn muốn gặp gỡ các bạn ở Đức, ở VN và ...
2. K8 Hn vẫn chưa fix được chương trình cụ thể ngày kỷ niệm Sáng Thứ 7, 19-12-2009 này:
- Đề nghị các bạn vẫn bố trí ưu tiên ngày 19-12 này cho việc của Khóa;
- Đang lập kế hoạch đấu bóng giao hữu mời K1-7 và K9 vào buổi sáng hôm đó tại CLB QĐ 19c Hòang Diệu. KH chi tiết sẽ được thông báo vào thứ Hai tuần tới (14-12-2009).
- Sáng T7 này (12-12-2009) BLL mở rộng họp bàn, chốt chương trình, mời thêm một số thành viên tích cực, nhiều sáng kiến (PhNgThiết, BuiVSơn, ...), địa điểm: Cafe 47 Cửa Đông, 8-10 giờ.

TM BLL K8 HN, Bùi Thắng

Kỷ niệm đất Lào.

Kỷ niệm về Lào tôi có một chuyện đáng nhớ.
Lần đó, sau khi làm việc tại huyện Bắc chưng (tỉnh Sê koông-Nam Lào). Chúng tôi về nhà một đối tác Lào uống rượu. Đồ nhậu chỉ có khô bò và xôi Lào chấm với Nậm phịa. Nghe nói Nậm phịa làm bằng phân non của trâu, bò nên không dám ăn. Tôi có mang theo thịt chà bông(ruốc thịt) nên mang ra. Dân Lào có vẻ khoái món mới này khi ăn với xôi! Chia tay khi đã hết hai chai rượu , trời đã về chiều . Dự kiến sẽ về nghỉ tại Salavan nơi có một ngọn thác rất đẹp của Lào. Trên đường đi, Sơn lái xe(người trong hình ĐN mặc quần dài,đứng ăn mì) có vẻ say, buồn ngủ tay lái đã chệnh choạng. May là đường ở Lào tốt và vắng, trên đường chỉ có dê, bò nên không xảy ra chuyện gì? Đến đường rẽ vào thác, trời đã tối mịt. Xung quanh là rừng, trời bắt đầu mưa lất phất. Chúng tôi chọn một bản ven đường tấp xe vào cho cậu Sơn lái xe chợp mắt cho qua cơn buồn ngủ. Trên xe có ba người thì cả ba đều biết lái, nhưng vì không rành đường nên Sơn giữ tay lái suốt. Chợp mắt ngủ được một chút chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Đi khoảng hơn nửa tiếng, tôi đang mơ màng bỗng cảm thấy xe chạy không bình thường? Mở mắt ra thì thấy loang loáng trước mũi xe toàn cây là cây. Bỏ mẹ thằng này lại cho xe xuống vực rồi! Tôi nghĩ thế. Nhưng xe lao một đoạn rồi dừng lại. Cả ba tên xuống xe coi thì may quá chỉ lao vào vệ đường, xệ một bên. Đường rừng lại đang mưa nên bùn quết vào xe, mọi cố gắng đẩy, gài thêm cầu đều không được. Xe càng nghiêng về vách đường hơn. Chỉ còn một cách nhờ xe khác kéo lên, mà ở Lào rất ít xe, đường này vắng càng ít hơn. Sơn có vẻ biết lỗi nên tình nguyện đi tìm xe kéo giúp. Vả lại, cậu không tình nguyện thì cũng chẳng có ai biết tiếng Lào ngoài cậu ra để liên hệ với người dân Lào cả. Lội bộ 6-7 cây số mới đến được chỗ có dân, cậu cũng chỉ mượn được một sợi cáp, còn xe thì như ĐN nói, dân Lào chỉ làm việc hết giờ làm việc là nghỉ kể cả bán xăng nên đêm khuya không có ai chịu chui ra đường vào giờ đó cả! Mưa ngày càng nặng hạt, ba thằng chui vào trong xe để nằm tạm và cũng để trú mưa. Nói là nằm mà đâu có ngủ được vì một phần xe nghiêng gần như muốn lật, một phần không biết còn phỉ không nên tư thế cũng phải đề phòng. Khoảng hơn 1 giờ sáng có tiếng xe chạy từ xa. Sơn chạy ra giữa đường chặn xe lại, may họ dừng. Sơn ta vì tiếng Lào cũng chỉ biết ít nên dùng cả tay để diễn tả, nhờ họ giúp kéo xe lên. Nhưng vì xe họ sắp hết dầu nên Sơn lại phải cùng họ đi mua dầu cách đó vài km nữa. Tất nhiên là phải gõ cửa năn nỉ họ bán. Kéo được xe lên, người chúng tôi cũng đầy bùn, ướt nhẹp. Chúng tôi phóng xe về khu vực thác. Tiếng nước chảy ầm ầm quanh khu vực thác. Uả! Sao cây cầu đi vào chỗ nghỉ nó lại có một cây gỗ chặn ngang? Cả ba xuống xe lôi cây gỗ chắn ngang cầu và cho xe qua. Thuê được hai phòng nghỉ dạng nhà sàn, chúng tôi tắm rửa, thay đồ. Lấy mấy gói mì ăn liền để sẵn trên bàn, đổ nước sôi chứa trong bình thủy (phích) ăn tạm rồi đi ngủ. Sáng ra, trời vẫn còn mưa rả rích. Khu vực chúng tôi nghỉ vắng lặng, chỉ nghe tiếng nước chảy đổ xuống thác ầm vang. Nhà nghỉ là một khu resort toàn nhà sàn nằm rải rác trên sườn núi. Cây cầu tối qua chúng tôi cố đi qua, nhịp giữa bị lũ cuốn trôi, chỉ còn gác lên hai bên bờ. Hú hồn, hèn nào mà họ chắn không cho đi qua cầu. Hôm qua, lúc chúng tôi đi xe qua mà nó sập xuống sẽ không biết "hồi sau" thế nào?
Xin lỗi không có hình vì bị mất hết.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

Tháng 12 và những dấu ấn cuộc đời

Tháng 12 không chỉ là tháng kỷ niệm thành lập QĐNDVN, ngôi nhà lớn của những người lính chúng mình, tháng 12 đối với riêng mình còn là tháng có những dấu ấn khó quên trong cuộc đời: Tháng 12/1971, tháng của những ngày náo nức chuẩn bị lên đường nhập ngũ; tháng 12/1972, tháng nằm giữa chiến trường Quảng trị, cồn cào lắng nghe tiếng bom rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm B52 đánh vào Hà nội; và tháng 12 này, chính thức cầm cuốn sổ hưu trong tay trở về với đời thường sau 38 năm sống cuộc đời quân ngũ. Không nôn nao, không cồn cào, chỉ một thoáng bâng khuâng, rồi thanh thản bước vào một quãng đời mới, quãng cuối cùng của cuộc đời !
Tháng 12 năm 1971, mình đang học ở lớp 10A trường cấp 3 Ba đình. Hồi đó phong trào thanh niên, sinh viên lên đường nhập ngũ rất sôi động. Mình là phó bí thư đoàn trường, bí thư chi đoàn lớp, cái không khí ấy không thể không cuốn hút mình theo. Mình đã đăng ký sẵn sàng nhập ngũ. Sau khi đi khám sức khỏe ở Quận Hoàn Kiếm, sau một số ngày chờ đợi, một số bạn trong khu mình như Hùng Thắng, Tất Thắng và Đạt đều đã có giấy gọi nhập ngũ, riêng mình vẫn chưa có. Sốt ruột quá, mình chạy lên Quận đội hỏi thì được biết mình không được đi đợt này vì gia đình mình đang có 5 người trong Quân đội. Mình cũng không nhớ là cảm giác của mình lúc đó như thế nào nũa. Nhưng quyết tâm của mình là đi. Mình đã từng nói trước lớp và bạn bè quyết định ấy. Không thể ở lại. Cũng có nhiều người khuyên mình ở lại học tiếp, tương lai sẽ được đi nước ngoài. Lúc đó hầu như mình không nghĩ về điều đó mà chỉ có một ý nghĩ là đi. Mình lại ra Quận đội hỏi lại, được gợi ý là phải xin ý kiến gia đình. Lúc đó bố mình đang công tác ở Cục xuất bản Quân đội, mình đã chạy ngay lên phòng làm việc của bố để xin giấy xác nhận và nộp ngay cho Quận đội. Chỉ mấy ngày sau mình có giầy gọi nhập ngũ. Và thế là cả 4 đứa trong khu tập thể cùng được nhập ngũ một đợt. Năm đó, tiễn thanh niên Thủ lên đường nhập ngũ tại núi Nùng trong vườn bách thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến huấn thị. Ngô Tất Thắng được thay mặt tuổi trẻ Thủ đô phát biểu quyết tâm. Ngày 11/01/1972, đợt giao quân của Quận Hoàn kiếm được tổ chức tại nhà hát nhân dân. Buổi tiễn đưa diễn ra hết sức cảm động. Bạn bè lớp mình hôm đó đã bỏ học để đi tiễn mình. Những bạn gái khăn đầy nước mắt, cho đến giờ mình vẫn không quên. Sau khi tập trung ở nhà hát làm lễ, bọn mình lên ô tô về tập kết ở Thanh trì và ở đó mấy ngày rối bắt đầu hành quân lên Bái lai-Hòa bình để bước vào đợt huấn luyện tân binh ở Trung đoàn 59-BTL Thủ đô. Lên đây lại gặp thêm nhiều bạn bè trường Trỗi nữa. Có lẽ ngày nhập ngũ chính thức của đợt này là ngày 06/01/1972, nên sau này trong hồ sơ quân nhân của bọn mình đều lấy ngày nhập ngũ là 06/01/1972. (còn tiếp)
Ảnh minh họa của Đỗ Nghĩa, được chụp tháng 1 năm 1972.
Hàng đứng từ phải sang Ngô Tất Thắng K7, Huỳnh Hòa Bình K7, Hoàng Thành K7.

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

ĐỨA EM HỌ CÙNG LÀNG

Duy Đảo

Đầu năm 1973 cầm quyết định của phòng cán bộ thuyên chuyển đi đơn vị mới - về ôn thi tại ĐHKTQS. Xuống ga Vĩnh yên theo chỉ vẽ của mấy tay đeo quân hàm xơ mít lang thang ngoài ga. Tôi tìm tới cổng Bảo Sơn. Đồng chí trung uý mặt rất trẻ, da trắng đeo băng trực ban sau khi xem giấy giới thiệu ái ngại

-Đồng chí phải xuống Yên Lãng, cũng xa đấy. Bộ phận luyện thi đại học của trường nằm ở đấy.

Rồi xé tờ giấy chỉ vẽ chu đáo. Lộn ra quốc lộ 3 đi xuôi về phía Hà Nội tính xem có cái xe quân sự nào thì vẫy. Thấy quán nước bên đường tôi lao vào. Sau này mới biết đó là quán “chị Bệt” chị em tình nghĩa bao năm.

Thấy trong quán đã có tay bộ đội, chả quân hàm mũ mão giọng nói oang oang. Cách quán chục mét là một chiếc xe xích bụi đỏ phủ kín. Vừa đặt đít xuống ghế. Tôi giật mình.

- Ô hay! Kiên, mày có phải là Kiên con ông Đa ở quê không?

- Ối giời ôi anh! Sao anh lại ở đây? hồi ở nhà nghe bác về quê nói anh đi “ lam” rồi cơ mà.

- Ừ! nhưng ra đi học.

- Thế bây giờ anh đi đâu?

- Anh xuống Bình Xuyên, Yên lãng.

- Thế thì tiện đường rồi. Em cũng xuống Bình Xuyên rồi ngược vào Tam Đảo em học xe xích sắp lấy bằng, hôm nay đi thực địa.

Lần đầu tiên trong đời được ngồi xe xích với tay lái xe là thằng em họ cùng làng. Tiếng máy nổ tưởng thủng mẹ nó cả màng nhĩ. Đít thì như bị bố cầm đòn gánh phang vào, ruột gan cứ lộn hết cả lên.

Hai anh em chia tay ở thị trấn. Rồi tôi cuốc bộ tìm đường về đơn vị.

Đường quê, chiều tháng 3 đang vụ đông xuân chăm sóc ngô. Bà con đứng chống cuốc nhìn trên đường cái quan có anh bộ đôi đeo ba lô chân thập thễnh bước. ( Chân bị đau do ngồi xe xích không quen ).

Quái con cái nhà ai ấy nhỉ? Chân cẳng thế kia chắc ra bắc an dưỡng. Nghe lõm bõm tiếng bàn tán của bà con từ ruộng ngô vọng lên tôi càng “thập thễnh” tợn. Rồi máu bông phèng của dân trường Trỗi bốc lên tôi loa tay nói vọng vào bãi ngô:

- Chào các bác! Em là con ông Thình ở đầu xóm, bị thương trong nam ra an dưỡng. Tối nay mời các bác sang nhà uống nước xơi thuốc.

Vừa nói tôi vừa đi như chạy quên bố nó cả “thập thễnh”chỉ sợ bà con nhao lên hỏi thăm tin tức con cháu trong nam thì chết.

Đi đã xa tôi vẫn nghe thấy tiếng bà con: “ Quái làng mình ở đầu xóm làm quái có ông Thình nào có con đi bộ đội” . Tôi nghe tiếng, càng hãi bước chân như giặc đuổi.

Sau này Kiên ra quân chuyển sang lái xe tải cho đoàn 10 “mắt chột râu vàng” nổi tiếng iêng hùng đường năm ( xe ifa hai đầu Badxốc sơn màu vàng. Còn đèn thì chỉ có mỗi một bên ) làm ăn cũng khá.

Kiên có cô em gái tuổi Hợi sau hoà bình hơn chục năm sau lang bạt vào Sài Gòn làm ăn. Tính tình hiền lành lại chịu khó tằn tiện nên tích cóp được kha khá. Có vàng giắt lưng quần, mua được cả đất. Có một thời gian ngắn Hợi giúp việc nhà cho vợ tôi.

Hợi hơi thiếu nhan sắc, lại cục mịch, thương Hợi vợ tôi có lần đã nói: “ Hay là theo chị mày xin bố nó thằng nào đứa con sau này có mẹ có con hú hí chứ tuổi già nó sồng sộc tới lúc nào chả biết, tới lúc đó mới lo thì đẻ đái khó đấy em ạ”

“Đất lề quê thói” Hợi rất muốn nhưng chả dám. Sau này làm sao dám vác mặt về quê mang tiếng là gái không chồng có con. Hôm rồi gặp Hợị lại nhà chơi, vợ tôi buột miệng: “ Sao tóc bạc nhiều thế em”

Cứ thế Hợi ôm mặt hu hu khóc, tiếng khóc thảng thốt của người phụ nữ đơn thân làm tan nát cả cõi lòng “Em già mất rồi chị ơi!”. Tiếng Hợi lại nấc lên.

Là thằng đàn ông từng trải nhưng nghe tiếng khóc than của Hợi , cô em họ cùng làng mà lòng không cầm nổi.

Thể thao: Muay Thái thách đấu với chùa Thiếu Lâm

Ngày 19.12 tới, các môn phái lớn của võ thuật Trung Hoa sẽ thượng đài tranh cao thấp với muay Thái sau khi 5 võ sĩ của muay gửi một lời thách đấu khá ngạo nghễ đến chùa Thiếu Lâm.

Lời thách đấu của Muay Thái

Môn phái Thiếu Lâm Trung Quốc đang rất tầm thường dưới bàn tay của những võ sư ở chùa Thiếu Lâm. Điều đó cho thấy chắc chắn họ không có “cửa” với quyền Thái của chúng tôi. Nếu họ chấp nhận thách đấu, chúng tôi sẽ thắng tuyệt đối “5-0” và san bằng chùa Thiếu Lâm”. 5 võ sĩ quyền Thái nổi tiếng đã có lời thách đấu hùng hổ với chùa Thiếu Lâm ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc mà tờ China Daily đưa tin hôm 1.12. Theo Tân Hoa xã, tên tuổi của 5 võ sĩ muay trên vẫn chưa được xác định, nhưng rất có thể đó là các võ sĩ đã từng qua thượng đài với một số môn phái vào tháng 7.2009, có biệt danh là: “Thần mục sát”, “Quỷ kiến tất”, “Ma thuật trùy”, “Quyền diệt phong”, “Đồ long trửu”, đều thuộc Hiệp hội Võ thuật Thái Lan....".Xem tiếp

Thanhnien online

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

KỶ NIỆM VUI : LÍNH SINH VIÊN

( Loạt bài khoán của Ut.TQ nhân dịp 65 năm thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22/12/2009 )
Khoác áo lính hai mấy năm trời, trải qua khá nhiều đơn vị, ngẫm lại ở mỗi nơi đều có vui buồn kỷ niệm. Lính chiến trường, lính sinh viên, lính cơ quan rồi lính vật vờ, chây bửa đón “ Ga hưu “,ở đâu chả có chuyện. Với tôi, đời lính không dài nhưng có đến 6 năm đi học. Là lính sinh viên thì Trỗi nhà ta hầu hết đã từng, ngoài học hành rèn luyện ra, cái chuyện trèo tường ra phố, cắm quán thiếu nợ rồi ra đong đưa với mấy em gái thị xã thì Trỗi ta bao giờ cũng vào loại ưu tú. Những loại chuyện này tôi không dám kể vì ngay trong Blog này có toàn những cao thủ, lớ sớ ba hoa chích chòe thì ăn đủ. Tôi chỉ kể chuyện các bố ít biết đến mà cái thời của tôi mới bắt đầu có lần đầu.
Năm 1980 bọn học viên năm thứ tư ĐHKTQS được cùng các thầy vào Nghệ Tĩnh coi thi đại học. Khà khà, đang là thằng học viên được làm anh giám thị, đúng là cái độ oách nó lên mấy bậc các bác ạ. Phen này ối kẻ nể sợ.
Giám thị nhìn em giám thị cười
Em nhìn giám thị nước mắt rơi.
Năm ấy sân ga Hàng Cỏ tràn ngập bộ đội quân hàm sơ mít và sinh viên đại hoc KTQD. Một đoàn tàu riêng chở các giám thị hai trường vào coi thi Nghệ Tĩnh. Đến Vinh các giám thị trẻ được tạm nghỉ chờ ở trung tâm văn hóa thành phố. Không rõ lý do gì mà thấy các em, các cháu tập đàn, tập hát ngay ngoài sảnh. Đàn Bầu, tam thập lục, ghi ta, ác coóc … từng tốp xen lẫn đám lính kiểng chúng tôi. Toàn những nghệ sĩ tương lai cả, ai cũng có thanh có sắc, yểu điệu đàn hát đến là vui tai vui mắt. Không khí như hội, đàn hát vô tư ngay trước mặt tôi và bài hát chúng tôi nghe nhiều nhất hôm ấy là “ Tàu anh qua núi” của Phan Lạc Hoa, bài ca của đất nước thống nhất và dựng xây.
Nhớ tám năm trước, tôi đi qua đất Nghệ Tĩnh này vào mùa mưa ảm đạm, trong bom pháo rập rình của chiến tranh. Đoàn quân lặng lẽ bước đi, nối dài mãi trong đêm lần lượt vượt sông Lam, sông La rồi Ngàn Sâu, Ngàn Phố hậu phương dần xa và mặt trận dần ở phía trước. Tôi nhớ những khi hành quân ban ngày, cái đài bên hông chính trị viên luôn vang lên bài ca ra trận : Việt Nam trên đường chúng ta đi
Học viên lớp xe quân sự và một số giáo viên K2 cùng về hội đồng thi tại xã Đức Thủy, Đức Thọ trong một chiếc xe ca Ba Đình. Nhóm học viên chúng tôi được bố trí chỗ ở trong nhà bác công an xã và hai nhà bên cạnh. Vừa ổn định xong chỗ ở đã thấy hai cô cậu học sinh từ các địa phương khác đến liên hệ với công an xã để được bố trí nhà trọ. Lúc sau thấy bác công an xã dẫn cô gái tên Hoa sang nhà tôi và nói chủ nhà bố trí chỗ ở, cậu con trai tên Tùng thì ở luôn nhà bác công an xã. Sau này khi quen nhau rồi các em nó mới thổ lộ :” Tụi em biết các anh giám thị ở đây nên nài nỉ bác cho ở cùng để làm thân… dù sao quen biết vẫn hơn.” Chúng nó láu cà thế đấy.
Chúng tôi có giá quá phải không ? Tôi và thằng Thảo ngủ ở cái phản kê cạnh cái bàn tiếp khách to của chủ nhà. Anh cu Thảo bị ghẻ, tối nào cũng phải nhờ tôi bôi thuốc cho. Đêm ấy đã muộn rồi mà em Hoa vẫn ngồi bên bàn vật lộn với con chữ. buồn ngủ quá, mà còn nhiệm vụ bôi thuốc ghẻ cho chú em Thảo nữa chứ, tôi nhắc khéo :” Hoa ơi ! Em nghỉ đi, mai tỉnh táo thi cho tốt, bây giờ cố, thức khuya quá nó mụ người ra chứ ích gì.”
Em cố tí nữa cho xong phần này thôi, các anh cứ ngủ đi ! - Em nó trả lời vậy. Tôi nghĩ : không biết cái tí của em nó đến bao giờ đây, “Có mà ngủ nong” ấy, mùa hè, gió Lào nóng bỏ mẹ, lại đèn sáng tơ hơ thế kia bố thằng nào ngủ được.
Đúng là cái tí của em dài thật, hai thằng không chịu được đành dùng chiến thuật quần tà lỏn nhưng đắp cái vỏ chăn quay lưng lại phía ánh đèn. Có thế chú em Thảo mới làm việc với lọ thuốc Đép được, chú phải tự bôi thuốc lấy, tôi chỉ hỗ trợ phần che khuất, không biết hiệu quả điều trị được bao nhiêu phần trăm, nhưng vất vả quá lắm và cái mùi khen khét của thuốc Đép nó xộc vào mũi đến khổ .
Hôm sau nghe sơ kết buổi thi đầu, thấy phòng thi ông Thảo lập những hai biên bản và thu gần hai chồng sách giáo khoa. Cha cha, cái thằng nó tức cái con Hoa sao ấy mà làm dữ vậy.
Phòng của tôi không có giáo viên trông cùng, chỉ có 2 thằng học viên là tôi và thằng Giá nên hiền khô. Chúng tôi cũng thu cả mớ sách giáo khoa nhưng không lập biên bản nổi. Cứ mỗi lần thu được một quyển thấy các em gái nó cười với giám thị là lại thôi. Có em tôi thu đến 4 quyển vẫn chưa dám bảo đảm là hết sách trong người, cứ như nhà ảo thuật ấy nhưng cuối cùng cũng tha tất cả trai lẫn gái. Cũng chỉ vì nụ cười Hà Tĩnh mà tôi và Giá bị nhắc nhở, biết vậy nhưng cũng khó sửa lắm, của đáng tội con gái Đức Thọ xinh thế mà…
Tụi học sinh cũng kháo nhau là có hai giám thị trẻ dễ tính nhất, gặp nhau ngoài đường, chúng nó kéo bằng được tôi vào nhà chơi, thăm hỏi, trò chuyện xong ra về còn nhét bao Trà Khúc vào tay nữa. Ôi chao ! Lại còn đút lót giám thị nữa. Thật ra cũng là tình cảm thôi, buổi sau tôi đâu có trông phòng mấy em nữa.
Đến lượt ông mãnh Tùng, không biết nghe đâu mà biết là mai tôi trông phòng của nó. Nó nì nèo :” Anh ơi ! Mai giúp em với, anh xếp thế nào cho em ngồi gần thằng Tiếp. Nó học giỏi lắm, ngồi gần nó em chỉ ngó cái đáp số để kiểm tra lại bài mình thôi, không làm bạy đâu.”. Tôi cứ ậm ừ thế chứ biết xếp thế nào mà ngồi cạnh nhau được.
Cầm bản danh sách học sinh tôi đánh số lên bàn, cứ ba đứa một bàn theo số báo danh. Thế nào bàn cuối cùng còn mỗi thằng Tùng một mình một bàn, tôi chợt nghĩ ra cách giúp nó.
Sau khi đọc đầu bài tôi cứ để cho lớp làm bài chừng 10 phút, rồi lừ lừ đi xuống bàn thằng Tiếp, tôi nghiêm giọng :” Cậu ngồi dịch sang đây.” Thằng cu Tiếp nhìn trái rồi nhìn phải, lơ láo chẳng hiểu gì nhưng vẫn nghe lệnh của tôi.
Tôi lại gắt lên :” không phải thế , cậu đứng dậy, đi ra đây !“ . Cu Tiếp xanh mặt, hốt hoảng đi ra. Tôi lôi xuống bàn thằng Tùng dí ngồi vào bên cạnh…
Tôi nhớ giám thị hành lang là anh Tiến giáo viên đạn có hỏi về chuyện ngồi lộn số, tôi phịa : “ Mấy cậu trên đó cứ bàn tán, em lôi cậu này xuống đây, tách chúng nó ra..”
Trưa ấy thằng Tùng hoan hỉ chạy sang nhà tôi cảm ơn đã giúp, chỉ thế thôi chứ không Trà Khúc Trà khét gì như mấy cô gái hay cười. Lại nghĩ, biết thế này lần sau ông chỉ giúp con gái… Dưng mà chẳng bao giờ có lần sau các bác ạ.
Hì Hì ! Chuyện bố láo bố toét của em ngày đó các giáo và bác NTN không nên đọc. Mà có đọc thì cũng lượng thứ cho, bộ đội mà. Bắt mấy thằng mê gái coi thi là hỏng, hỏng đến tận giờ vẫn chưa chữa được.

SEN "HOÀNG ĐẾ"( gửi TQ Út)


Cuối tuần rồi, về quê chơi thôi, ở nhà buồn lắm.






Các khóa út gặp nhau.



Tình cờ các khóa 6, 7, 8, 9 gặp nhau tối qua.
Từ trái qua: DũngK9 từ Đà nẵng vào, Khánh "chuột" k7, Huỳnh Hồng k6, Vũ Hưng k6, Đạt k8, Minh Phượng k6, chồng Phượng, Nhân "giun" k7.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

100 Ngày Lê Quốc Bình-một bạn Trỗi khóa 6 ra đi.

Hôm nay ngày 3/12 tức ngày 17/10 ÂL. Gia đình Quốc Bình tổ chức cúng 100 ngày cho anh tại tịnh xá Trung tâm, 21 Nguyễn trung Trực, quận Bình thạnh, cách nhà anh Kiến Quốc không xa. Một số hình ảnh tại buổi lễ:

Má vợ, con trai, Quốc Dũng em trai, Bắc Hà em gái Quốc Bình.

Tịnh xá Trung tâm.

Khuôn viên tịnh xá.

Các nhà sư đang chuẩn bị cơm chay sau buổi lễ.

Nơi để tro, cốt Bình và vợ.

Bình tro của Bình và vợ.
Thắp nhang cho bạn, chia tay mọi người. Thầm nhớ tiếc một bạn Trỗi sớm ra đi.,.

Ảnh "nhặt"

Hình ảnh sĩ quan QĐNDVN khi tham gia giao thông.
Quân phục đã đẹp như thế rồi, "tiếc" gì mà Cục quân nhu không thiết kế một chiếc mũ bảo hiểm dành cho quân nhân khi tham gia giao thông như ngành Công an.

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009

NHỚ QUÊ

Thấy mấy vần thơ bác Đức Dũng tặng KV và anh em để trong phần nhận xét bài Về quê của KV. Mạn phép tác giả, UT đưa lên trang chính để anh em đọc.

Chào Khắc Việt đã lâu không được về thăm quê đọc xong thấy nhớ quá! Thôi thì lại tặng KV và anh em vài vần thơ vậy.

Lâu lắm chẳng được về thăm quê
Nghe nói đổi thay lắm bộn bề
Đường về thôn xóm thơm mùi lúa
Đường vào thành phố lắm " Cave"
Nhân dân, cán bộ chiếm vỉa hè
Giữ xe, bơm mực bán chè đỗ đen.
Cái thời kinh tế bon chen
Tham ô, hối lộ mấy phen tử hình.
Đám cưới, sinh nhật linh đình
Thanh niên cướp giật, Sinh viên mua bằng
Nghiện lên Cha chú cũng thằng
Thằng hâm thằng tẩm cái thằng nhà quê
Xa quê lâu lắm chẳng về
Ngẫm ra bỗng thấy tái tê...cuộc đời.

Đức Dũng K5
(Tiêu đề do UT tự đặt)

VỀ QUÊ



Hải Hòa, Hải Hậu quê ông bạn Mạnh Thắng, tôi đã về trước đó ít tuần,vậy mà lần này hắn lại rủ cũng vui vẻ ok, cái gì hấp dẫn mà đồng ý ngay vậy nhỉ (?). Rượu Hải Hậu có nổi tiếng, có ngon thật đấy nhưng không đủ quyến rũ tôi đến thế. Gạo tám xoan, rau sạch hay cơm cỗ với hải sản quê nhà cũng chẳng ý nghĩa gì với cái anh răng long bạc tóc này, ăn uống bây giờ chỉ cốt cho qua bữa.
Có lẽ tôi khoái cái gió biển thổi về mát rượi mỗi chiều, rượu quê nhâm nhi và ngồi tán dóc cho đến lúc trăng non lấp ló ngọn cau, dẫu chẳng được như xưa

Ngồi với người quê, cảnh quê đấy nhưng chẳng nói chuyện mùa màng, cấy hái vì hầu hết cánh đàn ông đều đi làm nơi xa. Việc nhà chỉ có đàn bà, con nít , mà những vị này làm sao mà ngồi tán dóc được, họ còn lo rửa chén và hầu rượu, hầu trà mấy bố cu cả năm mới về nhà vài lần. Nhìn thoáng cái là biết, nhà nào có chồng , có con về thì các cô các bà tươi rói, trên môi lúc nào cũng trực sẵn nụ cười. Cô nào bà nào chồng không về được thì lầm lũi, buồn ru lẳng lặng lo công việc trong họ rồi về như bổn phận từ trăm năm này đã an bài cho họ. Nghĩ mà tội, nó hao hao những năm đánh Mỹ xưa, làng xóm vắng tanh, bao thứ việc ở nhà đàn bà lo cả. Mà đâu chỉ đàn ông, đàn bà con gái giờ đi lên phố cũng chẳng kém. Nhà nào có chút chữ nghĩa thì con đi học đại học, cao đẳng, không thì đi làm Ô sin, làm công nhân các khu công nghiệp và hàng trăm thứ nghề có trên thành phố như quán xá, nhà hàng…
Lần ấy về uống rượu quá chén nên say, tôi đành ngủ lại trong làng chứ không ra khách sạn. Đêm ngủ trong một căn nhà mà chủ nhà cũng là người bà con của hắn, cả nhà họ đi làm ăn xa, tận Sài Gòn. Căn nhà cũng sạch sẽ và đầy đủ ti vi, quạt điện nhưng vắng chủ cô quạnh, mùi nồng nồng ẩm mốc vì thiếu hơi người.

Lạ nhà không ngủ được, ra sân ngồi hút thuốc ngắm cảnh thôn quê tĩnh lặng trong đêm lại thấy hay hay. Trăng lên quá đỉnh đầu rọi ánh sáng ngà xuống hàng cau đầu ngõ, đống rơm, bể nước trước sân nhà im lìm dưới trăng, lâu lâu lại nghe tiếng chó sủa xa xa cuối xóm. Ngẫm mà lại nhớ quê mình, ngày xưa quê tôi cũng có cảnh trăng khuya thế này, đã lâu rồi không thấy lại, giờ quê tôi đã lên phố, đã thành khu công nghiệp, thành thị tứ, đêm về lung linh ánh đèn màu. Đất ruộng biến thành những dãy biệt thự xếp dài ven sông chờ người ở. Người dân hết ruộng, cũng tứ tán tìm đường ra phố làm ăn. Những bể nước, hàng cau nhường chỗ cho những dãy nhà cấp 4 cho công nhân thuê ở. Cảnh quê pha trộn cách sống phố phường nó nhốn nháo lai tạp và đầy dang dở. Rác rải đầy lối ngõ vì chưa có công nhân môi trường, quán nhậu bình dân với bia cỏ, karaoke, quán Net mọc lên nhan nhản làm lối sống con trẻ cũng đổi thay…Đêm ấy mất ngủ, tôi ngồi mãi nơi hiên nhà cho tới lúc chuông nhà thờ lan vang các xóm khua các con chiên dạy đi lễ.
Lần này có thêm ông Triều cái, sau cái vai trò tiếp rượu cùng cả nhà chén anh, chén chú, ông ấy ra ngồi dưới gốc ổi ở góc sân. Các cháu mời thế nào cái ông “Ô hay” ấy vẫn nhất quyết không chịu vào nghỉ trưa. Hình như bố mày đang khoái ngắm cảnh quê trưa , cũng hàng cau ấy, cũng đống rơm ấy và bể nước sóng sánh thỉnh thoảng lại lánh lên ánh nắng mặt trời, chẳng biết lúc ấy trong đầu hắn nghĩ gì ?. Hắn mê mải ngắm mẹ con đàn gà đùa nghịch quanh đóng rơm, nhắng nhít, inh ỏi . Chợt nghĩ, thằng này dân làng Đình Bảng gốc, phải rồi ! Quê hắn bây giờ có bói cũng không có được cảnh này, từ lâu lắm dân Đình Bảng chỉ chuyên làm hàng “ xịn “. Thuốc lá 555, Vina rồi rượu Hà Nôi đều từ đây ra lò thì lấy đâu ra rơm rạ, chỗ đâu cho gà mẹ gà con ríu rít. Đã vài lần được hắn kéo về dự lễ hội đền Đô rồi ăn thịt chó, cái lệ vốn có từ xa xưa. Làng nhà hắn cũng không còn là làng nữa, con đường lát đá xanh cứ ngắn và bé dần, đường bê tông, nhà gạch, tường gạch phủ kín chẳng còn đất đâu cho cây cối. Vậy là hắn cũng nhớ cảnh quê xưa, chẳng biết hắn nghĩ gì, còn tôi cảm thấy thôn quê vẫn cái cảnh xưa nhưng trong lòng nó biến đổi nhiều rồi . Cái gì cũng thấy khang khác một tí , hay có mà dở cũng nhiều nhưng sao khó diễn tả. Cái vận động bên trong cuộc sống thôn quê hôm này còn chưa phân định hay dở thì viết sao đây…
Cũng định viết cái gì đó về thôn quê Bắc bộ mà khó quá, thấy rơm phơi đầy ngõ, biết là dân vừa gặt xong mà không thấy ý gì. Nghĩ mới thấy thằng cha ĐN nó rành, nó nghe út Hường tỉ tê thanh minh vì lên muộn, rồi ngó tay út Hường thôi mà có bài viết rất đầy đủ về nông dân Nam bộ hôm nay, thật hay !
Đường về cả lũ ghé thăm đền Trần, là ghé cái linh thiêng, oai khí của cha ông tổ tiên chứ chả ai xin ấn, cầu quan như các “ đầy tớ “ của dân mấy năm nay đua nhau về những ngày giáp tết. Thắp xong nén nhàng, cả ba ông cùng lẩm bẩm, ông nào khấn gì thì ông ấy biết.
Quê xưa nhớ thế, về rồi có vui đấy, nhẹ nhàng thanh thản một chút thì cũng ưu tư một chút, mỗi lần về.

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2009

GẶP QUẾ "MAFIA".

Sáng chủ nhật. Đang ngồi uống nước với bạn bè bỗng nhận được cuộc điện thoại lạ: "Alô!Anh Đạt hả? Em là Quế lâm". Quế lâm thì mọi người biết rồi, cả một rừng Quế Lâm? Biết là ai đây? Nhưng câu sau tiếp: "Tụi em đi đón Quế "mafia" ghé qua SG, muốn mời các anh trưa nay, anh mời thêm mấy anh ở gần quanh đây". Đã có lời mời thì cứ nhận lời đi đã, tìm hiểu sau. A! Còn Quế "mafia" thì biết qua mấy bài viết trên trang Bantruongbe. Phải nói tôi rất mến phục Quế mafia! Tuy bé người nhưng việc em đem lại lợi ích thiết thực cho bà con nông dân là rất lớn! "Con trâu là đầu cơ nghiệp", không cần phải "đao to, búa lớn", em đã đưa ngành học của mình vào cuộc sống của người nông dân một cách khoa học và hiệu quả!
Gặp nhau tôi mới biết Quế lâm là ai? Hóa ra người quen hồi họp trường, nhưng nói chuyện thì mới biết "tít mù nó lại vòng quanh". Quế "giáo", rồi Quế "sứt", rồi Quế "đệ" sân bay. Quế "mafia" nghe tên sặc mùi xã hội đen mà lại nhỏ nhắn, nói tiếng Quảng trị nhẹ nhàng, dễ thương chẳng giống mafia chút nào? Em bỏ trong túi xách ra một cái hộp màu đỏ, nhìn là biết ngay là rượu, giới thiệu:"Đây là rượu mua ở Xcotlen, loại này chỉ có bán tại lò nấu. Từ loại này tổng hợp từ nhiều lò nấu mới ra loại rượu cốt để pha ra các loại uytki của Xcotlen mà chúng ta vẫn thường uống như Jonhnie, Chivas...Một hộp này có giá mắc hơn Blue label". Chả là Quế mafia vừa từ Xcotlen về. Ba chai nhỏ là 3 loại rượu khác nhau, uống ngon chỉ cần pha thêm ít nước lạnh. Cảm nhận như thế nào chỉ có hỏi anh Anh Minh (AMK3), Khánh "chuột", Tạ Hòa mới biết được? Nhưng 3 chai thì hết nhẵn mà chưa thấy ai say?
Để tìm hiểu thêm về Quế "mafia" và xứ xở của rượu uytki xin mọi người sang bantruongbe để biết kĩ hơn.

Thăm lại Trung hà-Hưng hóa

Vừa rồi có dịp ra Hà nội, được anh bạn là Hiệu trưởng trường Kỹ thuật Công binh , doanh trại chính là cơ sở cũ của trường ta ở Trung hà, mời lên chơi. Phấn khởi quá vì mình cũng đang mong có dịp thăm lại trường cũ. Rất may mắn là sau khi thăm Trung hà, anh bạn lại đưa sang thăm luôn Hưng hóa, bây giờ đang là doanh trại của Lữ đoàn Công binh Quân khu 2. Lữ đòan trưởng vốn cũng là học viên trường SQCB, nơi mình đã nhiều năm làm giáo viên ở đó, vì vậy được chỉ huy Lữ đoàn đón tiếp niềm nở và hướng dẫn thăm thố các nơi chốn cũ hết sức tận tình. Quả là hết sức xúc động khi sau gần 40 năm được trở về thăm trường cũ. Ký ức trỗi dậy và nỗi nhớ bạn bè lại tràn về. Mình thầm mong ước có dịp nào đó bạn bè mình thật đông được cùng nhau về thăm nơi cũ, cùng sống lại những ngày trẻ thơ đầy kỷ niệm hồn nhiên và nghịch ngợm. Cuộc đời bộ đội của mình cũng đã từng đi khắp đây đó, nhưng trở lại Trung hà-Hưng hóa sao mà mình bối hồi xúc động đến vậy. Mình đã giành nhiều thời gian tìm lại những dấu án ngày xưa. Cổng chính vào trường ngày xưa bây giờ đã trở thành cổng phụ của trường KTCB, còn cổng mới của trừơng bây giờ đã chuyển sang phía con đường chạy qua cầu Trung hà sang Hưng hóa. Đây là con đường và cây cầu hoàn toàn mới. Từ đây vào cổng trường, qua nhà Ban giám hiệu trường KTCB cũng chính là nhà bác Quỳnh chính ủy trước đây đã ở. Các nhà tầng cũ vẫn giữ nguyên, chỉ được sửa sang sơn phết lại. Đặc biệt nhà của C11 cũ ( nhà đại đội nữ ) vẫn nguyên xi là ngôi nhà cấp 4 lợp ngói. Ngày xưa cô Thục vẫn hay gọi mình xuống "giúp đỡ" mấy bạn gái cùng lớp vào đoàn. Sợ quá ! Mình còn nhớ, quanh trường ngày trước có nhiều giếng đào sâu hoắm, người bé nhỏ nhưng vẫn phải tự kéo gàu múc nước tắm giặt, nhất là mùa đông lạnh vậy mà vẫn chịu được. Bây giờ các giếng đã bị lấp gần hết, chỉ còn lại giếng trước nhà ăn ngày xưa ngay cổng vào trường cũ. Chiếc cầu Beley trước cổng trường vẫn còn. Mình đã lên căn phòng cũ ngày xưa của trung đội mình, nhớ lại lần chiếc chăn bông trắng của mình bị đổ đầy mực chỉ vì giám xuống nhà C11 "giúp đỡ"con gái vào đoàn ! Căn phòng của BCH đại đội ( Thầy Duệ, Thầy Thọ ) mình vẫn còn nhớ. Nhìn chung, trường cũ nay đã có nhiều thay đổi, nhưng cơ bản vẫn giữ những nét xưa, chỉ cần đứng ngắm nghía, hồi tưởng lại chút xíu là dần nhớ lại hết. Sang Hưng hóa thì cũng vậy thôi, vẫn những giãy nhà ấy, riêng cổng ra vào thì cũng đã dời đổi, sân bóng được làm đẹp hơn, doanh trại sơn sửa sáng sủa. Mình nhớ lại, hồi ở Hưng hóa năm 1969, khi Bác Hồ mất, mình đã đứng lặng dưới gốc phượng nghe thông báo trên loa phóng thanh của trường mà khóc nức nở. Cây phượng đó ngày nay vẫn còn. Vậy mà 40 năm đã trôi qua. Thời gian trôi nhanh quá ! Mới ngày nào còn là cậu bé học trò vừa ở miền trung ra, bị bạn bè gọi là "Vỹ gỗ", vậy mà nay đã là cán bộ hưu trí rồi ! Mình muốn kể tỷ mỉ hơn về trường cũ để bạn nào lâu chưa có dịp về thăm lại, hình dung phần nào về nơi chúng ta đã ở đó 40 năm về trước.
Ảnh minh họa từ trên xuống:
1. Lối vào doanh trại ở Trung hà (cổng cũ)
2. Bến phà Trung hà.
3. Lối vào doanh trại ở Hưng hóa.