Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Chủ Nhật, ngày 17 tháng 5 năm 2015

Tướng Nguyễn Sơn

Hôm nay đọc thấy bài này viết về tướng Nguyễn Sơn. Thấm thoát mà đã đến ngày sinh nhật 100 năm của ông. Cố nhiên, tôi chỉ biết ông qua sách báo mà thôi, chứ ông ấy còn cao tuổi hơn Ba tôi. Lần đầu tiên tôi nghe đến tên ông là tôi nghe lén khi Ba tôi kể về ông này trong những buổi tiệc tùng ở nhà. Từ đó, tôi tìm hiểu và đọc khá nhiều về ông tướng có thể nói là huyền thoại này. Nghe nói gần đây vợ ông có viết một cuốn hồi kí mà tôi tìm chưa ra.
Ông Nguyễn Sơn tuy là nhà quân sự nhưng rất thích văn nghệ, và ông bảo vệ giới văn nghệ sĩ hết mình. Ít ai biết rằng ông tướng này chính là người đứng ra làm lễ thành hôn cho Phạm Duy và Thái Hằng trong thời kháng chiến. Phạm Duy có viết hồi kí và có hẳn 1 chương viết về tướng Nguyễn Sơn. Xin trích lại đây vài đoạn để các bạn biết thêm về tướng Nguyễn Sơn (đây là đoạn viết khi Phạm Duy và đoàn văn nghệ về Thanh Hóa vào thập niên 1940s):
Nhưng người mà tôi mong được gặp nhất ở đây là tướng Nguyễn Sơn. Tôi được nghe rất nhiều huyền thoại về ông từ khi danh tướng có nhiều kinh nghiệm chiến trường này từ Trung Cộng trở về nước rồi được Hồ Chí Minh cử vào Quảng Ngãi để lập một mặt trận với mục đích ngăn không cho Quân Đội Pháp mở rộng chiến trường ra phía Bắc vào những ngày đầu của cuộc kháng chiến Nam Bộ. Chắn chắn Nguyễn Sơn là người thu hút được hầu hết các văn nghệ sĩ ở vùng suôi gia nhập vào những tổ chức kháng chiến ở đây.
Cũng phải công nhận là ở Thanh Hoá, từ khi xẩy ra cuộc kháng chiến toàn quốc cho tới khi có Hiệp Định Geneve, đã không bao giờ có một cuộc giao tranh lớn nhỏ nào xẩy ra cả. Quân Đội Pháp có thể mở nhiều cuộc càn quét ở các khu vực khác, nhưng họ không có đủ quân để tiến vào nửa phần ngoài của Chiến Khu IV này. Tình hình ở ba tỉnh Quảng Bình-Quảng Trị-Thừa Thiên (gọi tắt là Phân Khu Bình-Trị-Thiên) thì rất là sôi động nhưng tình hình ở ba tỉnh Thanh Hoá-Nghệ An-Hà Tĩnh (gọi tắt là Phân Khu Thanh-Nghệ-Tĩnh) thì rất là an ninh. Dân chúng ở đây có đầy đủ thóc gạo để ăn. Không những thế, tỉnh Thanh Hoá còn là nguồn tiếp tế lương thực cho các vùng trung du và thượng du ở miền ngoài. So với những Chiến Khu ở Việt Bắc và so ngay cả với Chiến Khu III là miền đồng bằng, tôi thấy đời sống ở Chiến Khu IV này rất là dễ chịu và là nơi lý tưởng để tập trung văn nghệ sĩ. Nhất là tại đây lại có hai người của chính quyền rất chú trọng tới vấn đề văn hoá là Đặng Thái Mai và tướng Nguyễn Sơn.
Trong thời gian vừa mới gia nhập Đoàn Văn Nghệ Quân Đội Liên Khu IV và đang trong thời kỳ tập dượt trước khi lên đường đi công tác xa, hằng đêm chúng tôi thường tới sinh hoạt với tướng Nguyễn Sơn, hoặc để biểu diễn thử cho ông ta coi, hoặc để nghe ông ta nói chuyện về kinh nghiệm làm công tác văn nghệ trước đây trong Hồng Quân Trung Hoa. Nguyễn Sơn có vẻ rất thích loại dân ca mới của tôi. Tôi rất khoái Nguyễn Sơn vì thấy ông ta khác hẳn các ông "cách mạng" mà tôi đã gặp, tính tình cởi mở hơn, vóc dáng quắc thắc hơn, hiểu biết về văn nghệ hơn. Ngoài ra, ông tán gái cũng giỏi lắm. Một thiếu nữ trẻ măng có cái tên là Hoài luôn luôn ở gần gụi ông, lúc đó ông cũng đã quá 40 tuổi rồi. Điều này đã làm cho Ban Thường Vụ ở trên Trung Ương khổ tâm lắm. Dần dà, tôi biết thêm về tiểu sử của ông.
Trong những đêm sinh hoạt giữa văn nghệ sĩ và vị Tư Lệnh của Chiến Khu, về vấn đề văn nghệ, chúng tôi thường được nghe ông nói về Tào Ngu và vở kịch Lôi Vũ và chúng tôi đã học hỏi được ở ông rất nhiều điều để có thể đem áp dụng vào công tác văn nghệ của chúng tôi lúc bấy giờ. Điều này cũng chẳng lấy gì làm lạ vì tướng Nguyễn Sơn đã từng là đoàn trưởng của nhiều đoàn ca kịch trong Hồng Quân Trung Hoa từ khi ông là đồng chí của Mao Trạch Đông.
Để hiểu rõ con người Nguyễn Sơn hơn nữa, xin kể một chuyện vặt về viên tướng Tư Lệnh này: Là người nghiện thuốc lá, lúc nào trong túi cũng có một bao thuốc thơm hảo hạng "3 con 5", một hôm, Nguyễn Sơn đi ra phía Cầu Hàm Rồng và đi qua một trạm gác. Tuy là tướng đó nhưng có lúc nào ông mặc quân phục đâu? Mặt thì xạm nắng, người thì khô đét, tóc thì như rễ tre, lại ưa mặc quần đùi, ai trông cũng tưởng là một anh binh bét, lính tốt đen. Nguyễn Sơn đang đứng ở dưới chân cầu, vừa móc túi lấy thuốc lá ra hút thì một anh dân quân đứng gác ở gần đó đi tới và phê bình:

-- Tại sao đồng chí lại hút thứ thuốc lá quốc cấm này? Tôi phải tịch thu, không đưa thì tôi bắt đồng chí ngay lập tức.

Cận vệ vội chạy lại túm cổ anh dân quân và hỏi:

-- Có biết ai đây không? Tướng Tư Lệnh đó.

Nhưng Nguyễn Sơn đã gạt anh cận vệ ra, nhe răng cười và nói với anh dân quân:

-- Cậu làm như vậy là đúng, xin nộp đồng chí bao thuốc lá.

Đi khỏi chỗ đó một quãng đường, Nguyễn Sơn mặt tỉnh khô, bảo cận vệ đưa cho ông bao thuốc "3 con 5" khác.”
(Hồi kí Phạm Duy, chương 56).
=====

Tướng Nguyễn Sơn trong quân phục Trung Quốc
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn (1-10-1908 - 1-10-2008) Nguyễn Sơn - Vị tướng của tình hữu nghị Việt – Trung
Thứ tư, 01/10/2008, 14:51 (GMT+7)
Tôi có may mắn được chiến đấu dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Sơn thời kháng chiến chống Pháp khi ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến khu thứ Tư (nay là Quân khu 4) và tôi là cán bộ tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 57. Tôi cũng nhiều lần được trò chuyện với ông ở Trung Quốc năm 1950 và 1955 khi tôi sang Trung Quốc học tập và công tác.
1. Ông tên thật là Vũ Nguyên Bác, sinh ngày 1-10-1908 tại phố Yên Ninh, Hà Nội, nguyên quán ở làng Kiêu Kỵ thuộc huyện Gia Lâm. Lên 7 tuổi ông vào học Trường Đỗ Hữu Vỵ, sau đó học Trường Sư phạm nội trú Hà Nội. Chịu ảnh hưởng của gia đình và phong trào yêu nước, năm 1925 ông giác ngộ và được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Sau đó ông bí mật sang Quảng Châu, Trung Quốc.
Sau khi tham gia lớp huấn luyện chính trị đặc biệt do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, ông được cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố do Tôn Trung Sơn sáng lập với sự giúp đỡ của cố vấn Liên Xô.

Tháng 8-1927, Vũ Nguyên Bác gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm đó, cuộc khởi nghĩa Quảng Châu bùng nổ. Cùng với các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam, ông tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu. Cuộc khởi nghĩa thất bại và bị dìm trong biển máu.
Tạm lánh sang Thái Lan, hoạt động trong tổ chức cách mạng của Việt kiều. Giữa năm 1928 Vũ Nguyên Bác trở lại Trung Quốc. Ông qua Hồng Công rồi vào khu căn cứ Đông Giang tham gia chiến tranh du kích, làm chính trị viên đại đội. Từ đó ông lấy tên là Hồng Thủy.
Mùa thu năm 1934, Chủ tịch Mao Trạch Động chủ trương tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh dài hơn 12.000km từ Giang Tây lên Thiểm Bắc. Hành quân trong đội hình Phương diện quân thứ nhất, Hồng Thủy là một trong bốn người nước ngoài và là người Việt Nam duy nhất tham gia cuộc Vạn lý trường chinh gian khổ ấy.
Năm 1937, phát xít Nhật gây chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Đảng Cộng sản chủ trương chấm dứt nội chiến, hợp tác với Quốc dân Đảng để đoàn kết toàn dân chống Nhật. Hồng quân ở Hoa Bắc đổi tên là Bát Lộ quân, ở Hoa Đông lấy tên là Tân Tứ quân. Thời kỳ đầu chiến tranh chống Nhật, Hồng Thủy được Bộ Tổng chỉ huy Bát Lộ quân cử đi xây dựng căn cứ kháng Nhật ở vùng Đông Bắc tỉnh Sơn Tây, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư Khu ủy 4 huyện Ngũ Đại, Phó Bí thư Đảng ủy khu Đông Bắc Sơn Tây; Tổng phụ trách lớp huấn luyện cán bộ ở Vương Gia Trang. Sau đó, ông phụ trách báo “Kháng địch” của quân khu Tấn Ký Sát, rồi làm giáo viên chính trị Trường Quân chính kháng Nhật. Từ năm 1939 đến 1942, ông về Phân hiệu hai Đại học Quân chính kháng Nhật ở Hà Bắc.
2. Tháng 8-1945, khi Hồng Thủy đang học tại Trường Đảng Trung ương ở Diên An thì cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc kết thúc, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam bùng nổ. Được tin Cách mạng Tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời do cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch, ông xin được về ngay tổ quốc. Lúc đó ông chưa biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc tức Lý Thụy – người thầy cách mạng của mình hai mươi năm về trước. Từ Diên An, ông đáp máy bay đi Trùng Khánh rồi tìm đường về Hà Nội. Để giữ bí mật, ông đổi tên là Nguyễn Sơn từ đấy.
Nguyễn Sơn trở về nước khi thực dân Pháp đã gây chiến tranh xâm lược miền Nam, Hồ Chủ tịch và Thường vụ Trung ương Đảng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Cùng với các đồng chí lãnh đạo và quân dân miền Nam, ông đã góp phần tích cực ngăn chặn bước tiến của quân xâm lược Pháp thời kỳ đầu kháng chiến. Tháng 5-1946, trên vùng tự do Liên khu 5, ông thành lập và trực tiếp làm hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân Quảng Ngãi để đào tạo cán bộ cho các chiến trường.
Tháng 7-1947, ông được bổ nhiệm làm Khu truởng kiêm Chính ủy chiến khu thứ 4 gồm sáu tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị, Thiên, chức vụ Đảng là Phó Bí thư khu ủy. Mùa xuân năm 1948, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Viêt Nam, ông được phong thiếu tướng.

Cuối năm 1949, ông rời Khu 4 ra Việt Bắc rồi sang Bắc Kinh vào giữa năm 1950 khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vừa ra đời. Sau một thời gian làm việc ở cơ quan Mặt trận thống nhất Trung ương và học tập ở Học viện Quân sự Nam Kinh, năm 1954 ông về Bộ Tổng giám huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, giữ chức Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh, Tổng Biên tập tạp chí huấn luyện chiến đấu. Ngoài tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, ông học thêm tiếng Nga và có khả năng dịch tài liệu tiếng Nga sang tiếng Trung Quốc.
Năm 1955, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc lần đầu tiên tổ chức phong quân hàm và khen thưởng tổng kết, ông được phong hàm thiếu tướng và được tăng thưởng Huân chương Bát nhất, Huân chương Độc lập và Huân chương Giải phóng, đều là hạng nhất. Đây là sự ghi nhận của Đảng, Chính phủ Trung Quốc đối với những đóng góp xuất sắc của ông – người nước ngoài duy nhất đã đi suốt quá trình xây dựng quân đội cách mạng Trung Quốc từ những ngày gian khổ hiểm nguy cho đến ngày thắng lợi.
3. Năm 1956, các bác sĩ Trung Quốc phát hiện ông bị khối u ác tính, đã phẫu thuật nhưng không kết quả. Được Đảng Trung Quốc thông báo, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng ta có ý định đưa ông sang Liên Xô với hy vọng chữa khỏi bệnh cho ông. Tuy nhiên, sau khi xem bệnh án gửi sang, các giáo sư Liên Xô cho biết bệnh ông không có khả năng chữa khỏi. Trung ương Đảng nhất trí để ông và gia đình về Việt Nam.
Cuối tháng 9-1956, tôi được giao nhiệm vụ lên Bằng Tường đón ông. Đến nơi tôi được biết Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã tổ chức một chuyến tàu đặc biệt đưa ông từ Bắc Kinh về Bằng Tường. Tại đây, đại diện Đảng, chính quyền và quân đội Trung Quốc đã lưu luyến tiễn ông qua biên giới. Dạo ấy, sau 9 năm kháng chiến, đường sắt Đồng Đăng – Hà Nội chưa khôi phục xong, chúng tôi dùng ô tô đưa ông và gia đình về Hà Nội. Ông rất cảm động khi thấy có người quen lên đón và dặn tôi, khi vượt qua biên giới, tìm một chỗ thuận tiện cho đoàn xe dừng lại, để ông “tận hưởng phút giây hạnh phúc khi đặt chân lên mảnh đất quê hương”.
Tôi đã thực hiện những điều giản dị mà ông ao ước. Nhưng tiếc là về nước được hơn một tháng, ông đã ra đi trong niềm tiếc thương của nhân dân và quân đội hai nước Việt – Trung, khi vốn kiến thức và kinh nghiệm đang độ chín muồi, khi đất nước và quân đội đang rất cần những vị tướng như ông.
HOÀNG MINH PHƯƠNG

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 4 năm 2015

Thăm thầy Thụy ốm!

Sáng nay đại diện B6 vào làng Vạn Phúc thăm thầy Thụy. Sau khi họp mặt với B6 4 ngày, hôm 25/3 thầy Thụy ngồi xe máy về quê ăn giỗ, gặp lúc trời trở rét, lại mưa nữa nên thầy bị tai biến, liệt nửa người. Thầy được điều trị ở K9 Bạch Mai những ngày đầu, hiện thầy đã ra viện, hàng ngày đến Phù Lỗ (cách nhà 40km) để chữa bệnh. Gặp thầy hay, thuốc tốt, hiện miệng thầy gần hết méo, giọng nói đã gần bình thường, chân phải đã đỡ nhiều, chỉ còn tay vẫn thõng do thầy thuốc chủ trương chữa chân trước, chưa chữa tay. Tuy nhiên thầy gày đi nhiều. Mong thầy chóng bình phục để còn đến dự Hội trường dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập vào tháng 10 tới.

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2015

Tin buồn.

Ban liên lạc B6-K8 NVT vô cùng thương tiếc báo tin: Cụ Võ Thị Thế, thân mẫu bạn Nguyễn Thành Điềm B6-K8 Nguyễn Văn Trỗi đã từ trần lúc 22 giờ 23 phút ngày 09/4/2015, thượng thọ 89 tuổi. Lễ viếng bắt đầu từ 19h30 ngày 10/4/2015 tại 160 Lê Đình Lý, TP Đà Nẵng. Di quan lúc 07h00 ngày 14/4/2015, an táng tại NTQK5. Xin chia buồn cùng bạn Điềm và gia quyến.

Thứ Ba, ngày 31 tháng 3 năm 2015

Những vị tướng của trận đánh lớn: Người đề xuất phương án tác chiến “Chiến dịch Hồ Chí Minh”

Trung tướng Cao Văn Khánh (bên trái) và Đại tướng Lê Trọng Tấn tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/nhung-vi-tuong-cua-tran-danh-lon-nguoi-de-xuat-phuong-an-tac-chien-chien-dich-ho-chi-minh-post140774.html | NongNghiep.vn
Trung tướng Cao Văn Khánh (bên trái) và Đại tướng Lê Trọng Tấn tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào... 
Chỉ huy từ Đại đoàn đến Binh đoàn
Cuối tháng 6/1973, Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21. Đây là hội nghị cực kỳ quan trọng, nhằm khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh, khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam bằng chiến tranh cách mạng của quân và dân ta. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng" (Đại tá Phạm Chí Nhân thể hiện - NXB Chính trị Quốc gia, 2000) đã viết: “Tôi tập trung suy nghĩ những vấn đề chiến lược trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Trực tiếp giúp tôi là các đồng chí Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn và Cao Văn Khánh, hai đồng chí từng chỉ huy đánh lớn, hai đồng chí gắn bó lâu năm trong nhiều chiến dịch, hai người bạn chiến đấu trung thực và chân thành”. Ở thời điểm ấy, Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, có thể nói, là người duy nhất trong số các tướng lĩnh quân đội đã từng chỉ huy chiến đấu từ Đại đoàn đến Binh đoàn chủ lực. Người chỉ huy chiến đấu binh chủng hợp thành, người có nhiều kinh nghiệm cũng là ông. Trong kháng chiến chống Pháp, ông Cao Văn Khánh đã có mặt trên khắp các chiến trường: Khu trưởng chiến khu V (1945), Đại đoàn phó đầu tiên Đại đoàn 308 (1949) - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng Tư lệnh. Kháng chiến chống Mỹ ông lại tiếp tục lên đầu chiến tuyến, gắn bó với chiến trường miền Trung và Tây Nguyên với các chiến dịch lớn như Đắc Tô (1966), Khe Sanh (1968), Đường 9 (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1973). Sự từng trải trận mạc, kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu những chiến dịch lớn mà đặc biệt là sự thích ứng nhanh chóng với diễn biến chiến tranh để ông có phương án tác chiến kịp thời hiệu quả. Từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm đầu, nhưng khi thời cơ đến công tác tham mưu chiến lược phải đáp ứng nhanh và có đủ các phương án đánh địch kịp thời giúp Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Đề xuất phương án tác chiến “Chiến dịch Hồ Chí Minh” Cao Văn Khánh là một vị tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông xuất hiện đúng lúc cùng với cuộc chiến tranh cách mạng ba mươi năm giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống hai thế lực đế quốc hùng mạnh nhất của thế kỷ XX là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một cuộc đối đầu lịch sử không cân sức, tựa như châu chấu đá voi, giữa một bên là quân và dân Việt Nam với một bên là những đội quân nhà nghề chinh chiến có lịch sử lâu đời với những vũ khí hiện đại nhất thời bấy giờ. Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh có vai trò rất quan trọng ở Tổng hành dinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Đề xuất phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn
Ông đã chủ trì nghiên cứu đề xuất phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn trong “Chiến dịch Hồ Chí Minh” lịch sử. Đêm 15/3/1975, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý ở Trị - Thiên: Liên đoàn biệt động quân 14 Việt Nam cộng hòa chuyển ra Quảng Trị thay thế Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển phần lớn vào Đà Nẵng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: Quân đội Việt Nam cộng hòa yếu hơn nhiều so với sự đánh giá của ta trước lúc mở cuộc tiến công. Kế hoạch hai năm có thể rút ngắn. Giải phóng miền Nam có thể sớm hơn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đem những suy nghĩ của mình trao đổi với các tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Cao Văn Khánh, Lê Hữu Đức và một số đồng chí khác trong Bộ Tổng tham mưu. Tất cả đều đồng tình. Cuối tháng 4/1975, giờ phút quyết định đã điểm. Chiến trường Nam bộ bùng lên như một cơn lốc. Ở Hà Nội, các cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh thường trực 24/24 giờ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí Tổng tham mưu phó Hoàng Văn Thái và Cao Văn Khánh thường trực ở Sở Chỉ huy.
Từ 18 giờ ngày 29/4/1975, trận tiến công Sài Gòn - Gia Định đã bắt đầu. Lại một đêm nữa, cả Tổng hành dinh cùng thức với chiến trường, vì miền Nam, vì cả nước. Cục Quân báo vừa nắm được tình hình địch mới nhất. Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh điện gấp cho các chiến trường: “Có tin địch đã lệnh cho các tàu hải quân ở Cần Thơ, Đồng Tâm và Phú Quốc tập trung ở một địa điểm, và một số tàu đổ bộ chuẩn bị đi sang đảo Guam, 78 máy bay của ngụy đã chuyển đến Utapao… Theo dõi xem tàu hải quân có chở bộ binh theo không và có kế hoạch đánh cho kịp”. Ngày 30/4/1975, Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang “Nhà Rồng” báo cáo tình hình mới nhất với đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp.
11 giờ 50 phút, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng! 
Tại Sở Chỉ huy, có mặt Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Nguyễn Trọng Yên và Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn Phạm Chí Nhân. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, ăn uống. Có người đã nói, thời đại Hồ Chí Minh đã sản sinh ra một lớp người có những bộ óc thông minh tài giỏi đáp ứng với sự đòi hỏi của lịch sử. Cao Văn Khánh là một trong những người như thế - không nhiều trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau gần 30 năm chỉ huy chiến đấu khắp các chiến trường, năm 1973 ông được điều về Bộ Tổng Tham mưu với chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng. Đại tá Nguyễn Giang Hà, nguyên Trưởng ban tổng kết của Bộ Tổng tham mưu, trong bài “Nhà Rồng và Bộ Tư lệnh 542” nhận định: “Đồng chí Cao Văn Khánh thì văn võ song toàn, dịu hiền, làm việc khoa học, coi trọng các cán bộ có trình độ, y hệt tính cách Đại tướng Võ Nguyên Giáp: thương lính, yêu quý mọi cán bộ, chăm lo rèn luyện cho cấp dưới…”
Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980) sinh tại Huế trong một gia đình quý tộc trí thức của triều Nguyễn. Ông từng sang Pháp học bằng Cử nhân Luật.
Ngoài công tác chỉ huy các đơn vị chiến đấu trực tiếp, Cao Văn Khánh còn đảm nhiệm Cục trưởng Cục Quân huấn, Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân (1960)... Ông được thăng quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)...

http://nongnghiep.vn/nhung-vi-tuong-cua-tran-danh-lon-nguoi-de-xuat-phuong-an-tac-chien-chien-dich-ho-chi-minh-post140774.html

Thứ Bảy, ngày 28 tháng 3 năm 2015

Ảnh cũ tặng thầy!

Nhân dịp mừng thầy B Trưởng bước sang tuổi 75, tập thể cựu học sinh B6 kính tặng thầy một cuốn album khổ lớn để thầy lưu những tấm ảnh kỷ niệm. Cùng với cuốn album còn có 3 bức ảnh cũ gợi nhớ các trò Trỗi. Mình xin đưa lại để mọi người cùng chiêm ngưỡng
Mời các bạn xem hình đóan bạn!

B6K8 đón bạn cũ - mới toanh!

Thứ bảy ngày 21 tháng 3, B6 và đại diện các bạn K8 của các B khác họp mặt ở Vườn Treo để đón bạn Bùi Băng Biên lần đầu. Cũng trong buổi gặp mặt này, các trò K8 chúc mừng thầy Btrưởng Ngô Gia Thụy sang tuổi 75 và đón chào sự có mặt của thầy Phạm Lực cùng vợ mới là người Scotland.
Từ trái sang phải: HÀNG 1 (ngồi): Thái (B6), Hoàng Châu Hương (em gái bạn Hoàng Châu Linh B5), thầy Ngô Gia Thụy (B trưởng B6), thầy Phạm Lực, vợ mới của thầy Lực, Lê Thanh Bình (b6), Trần Văn Bình (b5), Nguyễn Quang Vinh (b3), Nguyễn Thanh Đông (B6); HÀNG 2: Phạm Quân (B6), Phạm Huy Vũ (B6), Ngô Hoàng Hà (B6), Quản Thế Sơn (B1), Lưu Mạnh Hà (B6), Bùi Chuẩn (B5), Nguyễn Xuân Tiến (B6), Nguyễn Quốc Tuấn (B6), Nguyễn Trọng Dương (B6); HÀNG 3: Bùi Thắng (B2), Phạm Việt Thanh (B6), Phạm Quang Trung (B6), Phạm Nguyên Bình (B1), Trần Bình Trọng (B4), Bùi Việt Sơn (B6), Nguyễn Quang Hà (B1), Nguyễn Thanh Bình (B6); HÀNG 4: Nguyễn Huy Cường (B6), Nguyễn Nam Hùng (B6), Nguyễn Tiến Long (B6), Nguyễn Thành Biên (B6), Nguyễn Minh Chính (B6), Bùi Nguyên Khánh (B2), Ngô Anh Vinh (B5), Phan Thanh Hà (B4), Nguyễn Ngọc Đại (B6), Bùi Băng Biên (B6). Ngoài những bạn có mặt trong ảnh trên, tham dự buổi gặp mặt còn có: Phạm Ngọc Thiết (B2), con dâu Phạm Ngọc Thiết, Phan Việt Dũng (B1), Lê Ngọc Hiền (B3).

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 3 năm 2015

TƯỚNG PHẠM HỒNG SƠN, MỘT ĐỜI CHIẾN TRẬN

TƯỚNG PHẠM HỒNG SƠN, MỘT ĐỜI CHIẾN TRẬN

Tướng Phạm Hồng Sơn sau chiến dịch Biên Giới1950Tướng Phạm Hồng Sơn sau chiến dịch Biên Giới1950
Năm ngoái, Nghệ An tổ chức cuộc gặp gỡ tri ân cán bộ cấp tướng xuất thân từ tỉnh nhà. Tôi không thấy tướng Phạm Hồng Sơn, được biết ông vắng mặt vì lí do sức khoẻ tuổi già. Năm nay, kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội , đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ  Hồ Đức Phớc viết trên Báo Nghệ An bài “Tự hào về tướng lĩnh trên quê hương Bác Hồ”, có đoạn trân trọng nói về Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên Phạm Hồng Sơn, ông lại vẫn “vắng mặt” vì đã qua ngày giỗ đầu của ông rồi! Trong tôi, hình ảnh ông, tên tuổi ông, sẽ mãi mãi có mặt cùng người thân, đồng đội, cùng quê hương đất nước.
Phạm Hồng Sơn sinh năm 1923, là con ông bà Phạm Thành Tính - Nguyễn Thị Ngần, quê làng Do Nha, xã Hưng Nhân, huyện Hưng Nguyên. Cố nội, ông nội và cha ông đều tham gia phong trào Văn Thân chống Pháp(*) nên bị chính quyền thực dân phát vãng ra vùng rừng núi phía Bắc để cắt đứt hoạt động với nghĩa quân Phan Đình Phùng. Thời trẻ, ông học ở trường Gia Long, đậu tú tài Tây toàn phần năm 17 tuổi (1940), tiếp đó là sinh viên trẻ nhất của trường Đại học Luật Hà Nội, rồi xếp bút nghiên hoạt động trong phong trào sinh viên đòi độc lập. Năm 1945, ông được cử học trường Quân chính Kháng Nhật vẻn vẹn 15 ngày, và đó là cái vốn kiến thức quân sự ít ỏi đầu tiên trước khi khoác áo Vệ quốc đoàn chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ trên hầu khắp các chiến trường: Từ Khu V ra Kinh Bắc; lên Biên Giới; xuyên Tây Bắc, Điện Biên Phủ, Thượng Lào; vào Tây Nguyên, Đường 9 - Nam Lào đến cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân 1975. Rồi tiếp đến chiến trường Tây Nam… Và có một “trận” rất đặc biệt giữa đời chiến trận của ông là trận khắc phục  vỡ đê Mai Lâm (sau trận Cầu Lồ vài ba năm) mà ông được Chính phủ giao làm Tổng chỉ huy. Đây là trận chiến chống thiên tai khủng khiếp nhất trong lịch sử đê điều nước ta mà tôi được chứng kiến và tham gia hàng tháng trời trong đoàn quân có 2 sư đoàn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên; hàng ngàn người lặn lội đào đắp trong bùn đất, dựng lại nhà cửa, lau chùi máy móc thiết bị của hàng chục nhà máy, nhà  kho bị ngập trong cát sỏi…
Sau khi thống nhất đất nước với tư cách là Giáo sư khoa học quân sự ông viết cuốn sách “Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” thể hiện trí dũng song toàn của một con người trong quân ngũ không mệt mỏi, chiến đấu ròng rã gần 60 năm trời qua hai cuộc chiến chống hai đế quốc lớn. “Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, có ý nghĩa thực tiễn, có thể giúp ích cho các học viện, các trường trong quân đội, các cán bộ và cơ quan khoa học ngoài quân đội” (Lời giới thiệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp).
Cuộc đời và sự nghiệp của tướng Phạm Hồng Sơn được khái quát mấy nét cô đọng trên đây hoàn toàn có khả năng liên tưởng, mở rộng thành một tác phẩm nhiều chiều về một con người, một khoảng thời gian đa dạng phong phú và lâu dài như đầy những chớp sáng dày đặc nhấp nhánh sắc màu trên sa bàn quân sự. Nhưng ông sống hồn nhiên trong lòng người. Tập hồi ức khiêm nhường “Nửa đời chiến trận” của ông chỉ chưa đầy 80 trang sách nhỏ và dừng lại ở chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội. Đất nước còn bị chia cắt, người lính Cụ Hồ tiếp tục ra trận cho tới mùa xuân lịch sử năm 1975. PGS,TS, Nhà văn Đặng Anh Đào, vợ ông, đã thay ông – nhân vật chính – viết tập “Vầng trăng khuyết”. Và đó là “Nửa đời chiến trận” tiếp theo của cuốn hồi ức và chân dung về ông có tên “Nhớ và Quên”. Nhớ và Quên là một cuốn sách nhỏ rất lớn về nhiều mặt, đầy ắp những sự kiện gốc của một thời lịch sử huy hoàng và đau thương tan nát, đầy ắp những tấm lòng yêu nước, tình người trong máu và nước mắt, hội tụ đầy đủ cội nguồn văn hoá truyền thống qua một con người có những nét riêng.
Năm 1954, sau giải phóng Thủ đô, tôi về học lớp 8 Trường cấp III Hà Nội mà hồi đó người ta gọi là “Trường con em cán bộ”. Tôi được gặp Phạm Hồng Sơn nhiều lần, tuy thời gian mỗi lần gặp ngắn ngủi, chỉ tính bằng giờ. Tuổi trẻ chúng tôi lúc ấy thường trăn trở nhiều về lý tưởng sống, hết sức ngưỡng mộ các sĩ quan và những anh bộ đội Cụ Hồ. Ngoài những cái chất chủ yếu của người lính, Phạm Hồng Sơn trẻ trung, đọc tiểu thuyết và “nói tiếng Pháp như gió”, chơi ten nít, chơi đàn ghita Espanhon, tự lái mô tô, ô tô nhà binh… Tôi và mấy cậu bạn cùng lớp phục lăn! Có lẽ đó là gốc gác dẫn đến khái niệm  “thần tượng” quí giá mà ngày nay người ta có phần sao lãng, chỉ chú ý xây dựng tượng đài, có khi vô hồn trống rỗng. Một lần, tôi cứ luẩn quẩn bên cái xe mô tô Pháp. Xe đổ, xăng tràn ra từng vũng ở nhà xe, tôi hoảng hốt lấy chổi quét loang ra khắp nền nhà cho nó bốc hơi nhanh đi, nhưng vẫn còn mùi nồng nặc. Ông xuống gác, cười, và bảo “Mặc quần áo ấm đi chơi với anh!”. Tôi ngồi sau chiếc xe “bình bịch” cổ lỗ sĩ kêu ầm đường phố, nhưng là của hiếm lúc bấy giờ. Xe lao ra khỏi Ngã Tư Sở và tiến về sân bóng Hà Đông. Thế là lần ấy một thằng bé được ngồi giữa ông và ông Chủ tịch tỉnh trên một lễ đài nhỏ nhưng trang trọng, xem trận đấu giữa hai đội bóng quân đội và địa phương. Tôi thấy ông rất am hiểu phép tắc bóng đá, khi nói “Xử lý cái phép lợi thế là làm cho trọng tài đau đầu nhất!”. Chắc là cái “phép lợi thế” này có liên quan đến bàn cờ binh nghiệp? Hồi đó, ông là Tham mưu trưởng đại đoàn Quân tiên phong 308 nổi tiếng. Đến thời chống Mỹ, tôi về Nghệ An công tác, thỉnh thoảng mới được gặp ông chốc lát từ chiến trường Tây Nguyên ra Hà Nội, khi ông đến thăm gia đình bố mẹ vợ. Chiến tranh làm cho sức khoẻ sút kém và con người già đi. Tôi nghe nói có những trận đánh bộ đội phải cáng ông ra trận địa chỉ huy. Nhưng nét mặt và tâm hồn ông vẫn trẻ trung hồn nhiên như ngày nào, sự hồn nhiên tự tin, trong sáng. Không ít lần ông vui vẻ nói đại loại những câu: “Lính của anh sắp được nhận tên lửa vác vai”, hoặc: Cái cậu gì ở huyện Phục, ông Sáu đang định cấu tạo Trung ương uỷ viên dự khuyết đấy”. v.v… mà những người “vai vế” thường cẩn thận giữ gìn. Gần đây, xem những dòng hồi ức của ông và chân dung về ông, tôi vẫn thấy nhiều những tình tiết hồn nhiên, cởi mở, thân thiết như thế đối với gia đình, bạn bè, đồng đội của một vị tướng đầy cơ mưu trước kẻ thù. Tôi không ngạc nhiên khi một tân binh như ông, mới mặc áo lính là được giao ngay Chỉ huy đại đội Nam tiến đầu tiên, vì ông là thế hệ thứ tư của một gia tộc chống Pháp, chú ruột là liệt sĩ Phạm Hồng Thái; chị ruột là bà Phạm Thị Kim, chuyên gia Hán nôm, vợ nhà cách mạng Khuất Duy Tiến; anh ruột là Luật sư Phạm Thành Vinh thủ lĩnh sinh viên, Chánh Văn phòng bộ Quốc phòng, tác giả cuốn sách “Kinh tế Miền Nam”… Nhưng ông nói chẳng rõ vì sao người ta bố trí chức vụ đó cho mình! Ông không giấu những điều ấu trĩ khi kể chuyện trận đánh đầu tiên ở Quảng Ngãi là một trận… tưởng tượng: cả trung đội hò nhau bắn vào một đồi sim động đậy trước gió vì bị ám ảnh là tụi Nhật Bản thiện chiến!... Trên chiến trường Đường 9 – Nam Lào khốc liệt mà nhiều danh tướng của ta và địch đã viết sách về nó, Phó Tư lệnh B70 Phạm Hồng Sơn ngày 5 – 1 – 1971 gặp Đại tá Phan Hữu Đại Sư trưởng Sư đoàn 571 Bộ đội Trường Sơn để phổ biến tình hình và nhiệm vụ. Đồng chí Phan Hữu Đại kể lại buổi làm việc rất khẩn trương căng thẳng này. Trên tấm bản đồ trải rộng, Phó Tư lệnh đã nêu ra nhiều vấn đề: thông tin kỹ thuật ta nhận được là địch đang gấp rút mở cuộc hành quân đại quy mô, dự báo những mũi tiến công nào của chúng, bằng trực thăng, bằng các đơn vị thiết giáp…, các phương án tác chiến và dự phòng biến động của ta, những không gian thời gian có tính quyết định… Rồi đồng chí nêu số lượng tăng pháo, số lượng cơ sở vật chất bảo đảm cho chiến dịch… Xong việc, thì bom B52 rải thảm ào ào đổ xuống làm rung giật cả hầm chỉ huy, Phó Tư lệnh tranh thủ chuyển sang câu chuyện tâm tình:
“-Anh Đại quê ở Quỳnh Đôi. Hoá ra anh cùng quê với cụ cử Hồ Phi Huyền tác giả cuốn sách “Nhân đạo quyền hành”. Anh có quen cụ cử Hồ Phi Huyền không?
-Có. Cụ là bố vợ nhà văn Đặng Thai Mai. Tôi quen biết cụ vì cụ giúp giảng cho tôi những danh từ khó hiểu trong tác phẩm triết học phương Tây hồi tôi mới tập nghiên cứu, trước cách mạng Tháng 8. Nhưng đồng chí có quan hệ gì với cụ Hồ Phi Huyền?
- Bố vợ tớ là rể của cụ mà.
- Vậy đồng chí là cháu rể làng Quỳnh chúng tôi. Hay quá!”
(Báo Nhân Dân ngày 20 – 2 – 2006).
Đức tính hồn nhiên của ông trong ngày thường không phải không có những lúc hồn nhiên trong day dứt, xúc động. Bởi ông là người chỉ không biết bi quan. Nước mắt đau thương đã rơi quá nhiều qua hàng trăm trận đánh. Nhưng có lẽ nước mắt ông và đồng đội trước những thi hài mất dạng vì bom na pan  ở trận Cầu Lồ - trận cuối cùng chống Pháp sau trận Điện Biên Phủ ba tháng, do ông chỉ huy là xót xa nhất trước thời điểm mở ra hoà bình, nhưng ít được biết tới vì lúc này ánh hào quang chiến thắng Điện Biên Phủ quá chói lọi… Ông không lảng tránh những điều tai ương đau đớn. Đã có lần ông phát biểu trước một cử toạ: “Có lẽ trong đời của một con người, không ai là không tránh khỏi oan ức. Người oan nhiều, người oan ít, nặng, nhẹ… Con người ta dù có sức mạnh trong tay như tiền của, quyền hành, hoặc chẳng có chút quyền lực gì, lại nghèo hèn nữa nhưng cũng không phải không có một lần gây oan cho người khác, làm họ đau khổ dằn vặt. Thiếu thốn về vật chất đã khổ rồi nhưng vẫn có thể vượt qua được, còn đau đớn về tinh thần thì không gì có thể bù đắp nổi và đau đớn mãi mãi…” Một trái tim giữa đời. Ông nói vậy, nhưng ông là chiến binh kỳ cựu đánh giáp lá cà buộc phải luôn luôn chớp nhanh cách thắng mà sống. Người thấy cái giá sự sống của mình sẽ có cách sống của mình.
Thế hệ ông là thế hệ cách mạng thứ hai của đất nước, được sống trong buổi đầu gặp gỡ hân hoan và đẹp đẽ của người trí thức với sự nghiệp cứu nước, được chứng kiến và hưởng lợi thời kỳ mà mối quan hệ giữa trí thức với giới quyền lực gặp gỡ thăng hoa đơm kết qua những con người mà thành tựu khoa học, nghệ thuật lừng lững song hành với sự nghiệp cách mạng lẫy lừng trên cái nền mẫu số chung là yêu nước, - để trở thành những “hạt giống đỏ” quyết chiến và quyết thắng…
Ngày ông mất, tôi mở những sách ông tặng đọc lại. Tác phẩm chủ yếu của ông -  “Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” (NXB Quân đội nhân dân-1997) là một công trình nghiên cứu nghiêm túc những thời lịch sử đã qua và tâm huyết trách nhiệm với những thời khắc đang tới. Vốn là vị tướng dày dạn chiến trường đồng bằng, miền núi, cao nguyên, nhưng ông đặc biệt quan tâm vị trí chiến lược của sông biển trong chiến tranh ở Việt Nam. Diện tích nước ta phần đất chỉ bằng 1/3 phần nước (biển). Biển có hơn 3.000 đảo lớn nhỏ cộng với vùng trời liên quan. Có thể hai tiếng “đất nước” được gọi tắt là “nước” mà tổ tiên ta đã ý thức được từ rất xa xưa. Ông còn viết những điều sau đây rất sớm (khi ngày nay người ta đã xoá bộ Hải sản), và hơn một lần nhắc đi nhắc lại: “Sông biển ven đất liền luôn luôn là trục sống của cư dân. Cần có một hạm đội đủ sức cùng với lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đánh bại các cuộc tập kích đổ bộ của hải quân địch; phối hợp với không quân làm thất bại những mưu đồ đánh chiếm đảo và quần đảo của ta”. Từ đó ông đặc biệt nhấn mạnh lập luận: “Đi đôi với khoa học quân sự cần phát triển đồng thời khoa học kỹ thuật quân sự”. Tình hình giờ đây càng thấy rõ sức mạnh tổng thể  to lớn của quốc phòng không thể khôngcấp thiết thực hiện điều đó.
Một công dân mẫu mực; Một vị tướng văn võ song toàn ra đi từ giảng đường đại học, trưởng thành trong chiến tranh giữ nước; Một đời người hồn nhiên phơi phới… Đó là Phạm Hồng Sơn. Không phải ngẫu nhiên khi ông đưa ý tưởng của Lênin “Hãy bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc” vào phần Kết luận cuốn sách giá trị của mình.
                                                                                   Vinh, ngày 15/12/2014

(*) Phong trào Văn thân: Khởi phát từ 1864 tại các trường thi hương ở miền Bắc nhằm phản đối nhà Nguyễn Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhập 3 tỉnh miền Đông Nam bộ. Phong trào chủ trương “Bình Tây, sát tả”. Phong trào phát triển mạnh ở Nghệ Tĩnh, đỉnh cao là khởi nghĩa Trần Tấn – Đặng Như Mai. Về sau các hoạt động của phong trào này mới theo phong trào Cần vương nhưng vì chủ trương sát tả nên đã bị cô lập, tẩy chay.
Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/tuong-pham-hong-son-mot-doi-chien-tran

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 3 năm 2015

HỒI ỨC LA HIÊN (6)

SOUND #5 (phục hồi) - ... Làm sao nhà Thắng lại có màn đôi trường Trỗi? - Bố mình là Bùi Đại, nguyên chủ nhiệm khoa lây nhiễm của bệnh viện 108. Năm 1967 bố mình là đoàn trưởng đòan của viện 108 sang Trung Quốc để chống dịch viêm màng não cho trường mình, lúc bên khóa 7 có một người bị chết ấy. - Anh Hòa hay sao ấy nhỉ? - Anh Hòa. Hồi ấy đoàn bố mình sang khoảng mấy tháng. Đến khi bọn mình sang thì đòan ấy về rồi. Mỗi người trong đoàn được phát một bộ như chúng mình: một chăn, một màn. Sau này khi mình về rồi, nhà mình cần cái màn đôi nên ghép hai màn đơn của bố và của mình thành cái màn đôi này, dùng 4 chục năm rồi. Gần đây thì không dùng nữa nên nó ngả màu đi thế này. SOUND #10 (phục hồi) - Hồi đi sang Trung Quốc đợt hai có chị Hằng. Khi đi tàu hỏa qua Bằng Tường để đến Quế Lâm, mình bị một cái bụi than rất to rơi vào mắt. Chị Hằng đã tìm cách lấy ra cho mình đấy. Mình nhớ mãi đoạn đấy. - Đây là bạn Huy Cường, lớp B6 bọn em. Bây giờ Cường muốn nói lời cảm ơn đến chị Hằng đấy. - Em cảm ơn chị Hằng. Chiều hôm qua, lúc ở bên cửa hang bị lấp dở, bọn nó bảo thế này thì có khi chị Hằng không chui qua được (để vào hang) nên sáng nay em nhăm nhe về sớm để đỡ chị Hằng qua, để trả ơn đấy. SOUND #11 (phục hồi) - Bạn Hải ơi, hồi ấy bạn không được ở trong hang à? - Không. - Thế thì bạn ở đâu? - Ở lán. Song là sáng đi lấy nước rửa mặt thì nhìn thấy “cấy”!!!

Thứ Tư, ngày 04 tháng 3 năm 2015

HỒI ỨC LA HIÊN (5)

Mình xin đăng tiếp những file ghi âm trong chuyến đi La Hiên (đã được phục hồi): SOUND #4 (phục hồi) Khi biên chế trong quân đội ông già mình chỉ là trung tá thôi. Năm 64 thì có một người là trung úy ở đơn vị của ông già mình đến đón mình về đi trường Trỗi. Lúc đó bà nội mình ở đấy, bà nội mình ra nói: “Thưa ông, không dám.” Khi ông ấy chào, thì ông trung úy chào: “Thưa cụ, cho cháu đón Hùng về Hà Nội để đi trường Trỗi” thì bà nội mình mới bảo “Thưa ông, không dám.”, mặc dù ông kia chỉ là một người cấp dưới trong đơn vị của bố Hùng, nhưng mà đến bây giờ mình mới hiểu người đàn bà Việt Nam ngày xưa cực kỳ lễ phép. “Thưa ông, không dám. Ông làm cùng đơn vị của em.” Tức là nói ông già của mình là em. Cực kỳ khiêm tốn. Người dân Việt Nam mình bây giờ rất tinh tướng, không có cái chuyện ấy. Bà nội mình ngày xưa là một người mà cho đến bây giờ mình không thấy có một người nào khiêm tốn như thế. Mặc dù con mình đã là cán bộ cấp trên của người khác, người khác đến nói như thế mà cụ đáp “Thưa ông, không dám.” Về sau bà nội mình nói với mình thế này: “Đối với tất cả mọi người con phải trân trọng.” Cái đó bây giờ hiếm lắm, cực kỳ hiếm. Chỗ đất này ngày xưa làm gì có láng xi măng, tòan là sỏi. Mỗi khi mình có lỗi, bà nội mình bắt mình ra nhặt những viên sỏi này xếp vào gốc cây. Lấy một cái rổ đây, từng viên một xếp vào gốc cây. Đó là một cách giáo dục trẻ con cực kỳ quý báu luôn. Mình ở với cụ cho đến năm bọn mình đi trường Trỗi. Sau khi ở trường Trỗi về đến năm ‘70 thì mình và Quốc Bình, B1 (bây giờ ở trong Nam) lên đây.