Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Họp khóa 7 và những cuộc hội ngộ.


Ba tên cùng nhập ngũ một ngày:Hồ bá Đạt,Hồ phương Bình,Nguyễn trường Vỹ.Bình sau hơn 35 năm mới gặp Vỹ vẫn nhận ra nhau.

Suối biết thêm những bạn mới.Chị Hồ như Nguyện gặp lại bạn cũ.Chị em Phương Bình gặp nhau.

Nào ta cùng quậy tưng.

Dòng Ô LÂU (Phần tiếp theo)

Nhớ mùa nước tháng 12 năm 1974, khi tôi dẫn anh em tân binh về trung đoàn, hành quân suốt 3 ngày trong mưa về đến thượng Ôlâu . Cơn lười và máu hay “sáng kiến” khiến tôi nảy ý định kết bè thả trôi sông để về đơn vị ở giáp ranh. Thật may là đã có người bạn gàn vì thấy quá mạo hiểm, chỉ một sơ xuất nhỏ có thể chúng tôi sẽ bị trôi vào vùng địch và không bao giờ có chuyện hôm này mà trở lại.
Gặp con thuyền nhỏ ngược dòng sông, không biết họ ngược lên để làm gì (?). Người dẫn đường giải thích là họ đi săn cá Trình bằng cách đánh điện. Cá Trình đánh được về đem bán cho nhà hàng, khách sạn dưới Huế. Không chỉ có cá Trình, khi về còn có cá tràu và các loại cá suối khác.
Lại nhớ lính ngày đó cũng thường đi kiếm cá. Chúng tôi không có thuyền mà mình trần lội ngược dòng nước, trên vai là cái gùi đựng mấy quả thủ pháo, con dao đeo bên sườn, tay xách khẩu AK lặn lội khắp bãi cạn, hờm nước, vách đá kiếm ăn. Ùng oàng thủ pháo rồi lặn ngụp gom cá nổi vì sức ép, mỗi lần về trên vai một gùi cá nặng, đủ các loại cá suối, thịt thơm xương mền. Lính ta còn biết cách đánh cá khác bằng cách đập rễ cây Chay lên đá, xả nước cho nhựa chảy xuống suối, vài phút sau cá nổi trắng suối nhưng sau mỗi lần đánh ấy thì đừng bao giờ mơ có cá nữa, cách đánh hủy diệt này ít ai dùng vì bị mọi người lên án.
Cuối mỗi chuyến đi đánh cá, chúng tôi thường dừng lại ở những vạt sỏi trên sông (như chỗ anh bạn ĐN đang tắm trong hình) làm cá, sát muối bảo quản rồi tắm chào sông, xong là lên đường trở về chốt ở giáp ranh. Ngày ấy trên bãi đá này có một cặp sừng hươu rất to và đẹp, chúng tôi thường làm giá phơi quần áo sau khi giặt, quả là sành điệu và sài sang hơn cả các đại gia hôm nay.
Ngoài cá sông, rừng thượng Ô Lâu cũng là nguồn cung cấp rau xanh cho lính nhưng cũng phải mất nhiều thời gian công sức mới có được. Suốt cả chặng đường qua hết vạt rừng này đến vạt rừng khác trên đường đi tôi ít thấy mấy thứ rau rừng ăn được. Cũng vì chúng tôi chỉ đi bám theo đường mòn, nơi thường xuyên có người qua lại thì không mấy khi còn thứ rau ăn được. Kinh nghiệm trước kia chúng tôi thường lần dọc theo các khe suối nhỏ, ở đấy mọi thứ đều phong phú hơn, môn thục, rau rớn, tai voi, mua chua chỉ mọc ở những khe suối hay vách đá ẩm ướt. Lạ là hôm trước được ăn salát cải xoong trộn dầu dấm ở nhà hàng, thấy rau mền và thơm khác với cải xoong Bắc. Nghe những người bạn Huế giới thiệu rau này mọc ở các vách núi đá trên rừng chứ không trồng ở ruộng nước như ngoài Bắc vậy mà trước kia mình chẳng gặp. Mới biết rừng rộng và bao la lắm, vài ba tháng nằm rừng làm sao thấy hết được.
Phía trước xa kia, không biết là “ mấy con dao quăng “ là đường 15N, một nhánh phía đông của hệ thống đường Trường Sơn, huyền thoại xưa . Hai thằng tôi tính đi tính lại, đành phải dừng bước trước đại ngàn Trường Sơn vì sự chuẩn bị chưa đầy đủ và chiều còn cuộc hẹn với người bạn Hương Trà nữa.
Chờ ĐN tắm chào rừng xong, chúng tôi rút về “căn cứ “ đúng 2 giờ chiều. Bữa cơm trưa muộn nhưng thật hấp dẫn, cá tràu suối nấu canh măng chua , gà đồi luộc, cải xanh trong vườn xào lòng , chỉ tiếc là vẫn lại ba người. Không biết vì quá muộn hay ý tứ vốn có của người Huế mà vợ con người dẫn đường không cùng ăn được với chúng tôi.
Chia tay gia đình người dẫn đường, cơ sở mới của chúng tôi, hai thằng về Hương Trà gặp Quảng, người đồng đội cũ . Xong những việc cần bàn với Quảng, lại chuyện xưa nhắc lại, chuyện Hà Nội , chuyện Trỗi, Huế nghịch ngợm choảng nhau rồi lại cùng bên nhau giữa chiến trường ác liệt. Ký ức tràn về, bên ly bia trào bọt, ngất ngư chuyện trò quên thời gian, quên trời sáng tối.
Một ngày về rừng thật vui vẻ mỹ mãn, trọn vẹn với ký ức. Không biết anh bạn ĐN nghĩ sao về chuyến “ phượt “ rừng này, còn tôi cho rằng chẳng có tua du lịch nào sánh được với chuyến đi này. Cảm ơn những người bạn Huế đã đồng cảm, sẻ chia tạo điều kiện cho tôi những ngày ở Huế và giúp đưa tôi về với Huế xưa.
Khắc Việt.

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2009

Một vài hình ảnh họp mặt K7SG 2009.


Lời ca tiếng hát trong buổi gặp gỡ cuối năm K7SG.





































(Từ trên xuống, từ trái qua)
1. Anh Dương Minh và Dũng Sô K4: Tiến bước dưới quân kỳ.
2. Cô Thục và chị Hồ Như Nguyện (trường Bé).
3. Suối hát tặng cô Thục: Huế thương.
4. Bùi Thắng K8 HN với một bài hát Nga.
5. Anh Tuấn Linh K3, Hà Thành K6 , Văn Hoài Nam K7 tam ca uống "gượu" không say.
6. Thày Trọng nói anh Dũng Sô K4 hát mà hổng có chữ là hổng hát được (Quen rùi)
7. Tình ca Hoàng Việt, Lê Hòa Bình K7 (Ông ni cũng rứa).

Bạn Nguyệt Ánh HSMN đang bị bệnh

Chiều nay Đạt bột có gọi cho tôi nói Nguyệt Ánh Bị bệnh vì viêm xoang . Vì tôi ở Lạng Sơn xa quá nên không tiếp cận Nguyệt Ánh để thăm hỏi được . Các Trỗi và các Quế ở TP HCM nếu biết thì tới thăm hỏi Nguyệt Ánh tại nhà riêng .

DƯ ÂM .





Ai đã từng đi qua sông CỬU LONG GIANG , CỬU LONG GIANG sóng trào nước xoáy .
Ai đã từng nghe tiếng tiểu đoàn , tiếng tiểu đoàn ...
TIỂU ĐOÀN 307

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2009

Dòng Ô LÂU

Bao nhiêu con đường, bao nhiêu dòng sông đã đi qua trong mỗi đời người. Với tuổi thơ tôi là dòng Ly Giang xa xôi, khi tuổi đôi mươi là dòng Ô Lâu của miền Trung xứ Huế. Dòng sông nhỏ, thất thường con nước, có cái tên nghe ngồ ngộ nhưng nghe lâu thây thương, với người lính như tôi dòng sông nhỏ này đầy kỷ niệm.
Đó là những trận đánh của đơn vị từ mùa hè năm 1974, dòng sông nhỏ dựng lên những cột nước trắng xoá, hai bên bờ khói lửa trùm kính bến vượt. Ngoái nhìn về phía bờ sông vẫn thấy thấp thoáng những đồng đội tôi chạy, họ lao tới bờ sông, vượt qua những cột nước trắng của pháo địch lên chi viện cho chúng tôi dứt điểm đồi 61. Những ai ngã xuống trên đường chạy hay dưới lòng sông tôi không thể biết tên họ, chỉ biết đó là những người lính đoàn Phong Quảng , máu các đồng đội tôi đã hoà vào dòng nước này, làm sao quên…
Trận đánh đó đúng vào ngày 18/09/1974, ngày tôi vừa tròn tuổi hai mươi, ngày đó tôi đâu nhớ sinh nhật của mình mà tình cờ sau này khi đọc ghi chép của người tiểu đoàn phó, tôi mới hay.
Ghi chép của Trần Đình Hồng, tiểu đoàn phó K15, E4:
…. 9/1974 phong thượng uý. Ngày 18/09/74 chỉ huy đơn vị đánh chiếm cao điểm 61 chỉ trong 10 phút bằng phương pháp vận động tấn công giành thắng lợi diệt 120 tên địch.
Ngày 25/10 đi nhận bàn giao khu vực hoạt động của đơn vị, trời mưa to, phải bơi qua sông Ô Lâu bị nước cuốn trôi đi đã đượcđồng chí Mai Hồng Tình quê ở Nga Sơn, Thanh Hoá vớt lên. Ôi ! tôi rất cảm ơn anh đã cứu tôi, đã dạy cho chúng ta hết lòng vì đồng đội, tình cảm đó không sao quên được..
Mới lại thấy Ô Lâu đâu chỉ riêng mình có kỷ niệm và đâu chỉ là những trận đánh ngày nào. Dòng sông và những cánh rừng bên sông từng gắn bó với người lính chiến trường . Là lũ nguồn dữ dội trong mưa, là cạn khô nổi trắng cát sỏi trong nắng, thất thường lắm nhưng sông ơi ! Là thương nhớ khôn nguôi…
Đã nhiều lần tôi về lại Ô Lâu, đã thăm lại các điểm cao nơi xảy ra trận đánh, nhưng để ngược dòng sông vào sâu những cánh rừng thượng nguồn thì chưa thực hiện được vì rất nhiều lý do. Lần này, có ông bạn ĐN hợp máu lãng du, thích khám phá chẳng ngán gian nan vất vả, tôi mới quyết thực hiện ý định này.
Xa rừng hơn 30 năm rồi sức trẻ đâu còn nữa, chúng tôi phải nhờ cậy người dân bản địa. Thật may mắn là nhờ những người bạn Huế có chuyến về chiến khu Hoà Mỹ chúng tôi đã tìm được một hướng dẫn viên như ý và đặt “ căn cứ” xuất phát cho chuyến “ phượt “ rừng tại chính nhà người dẫn đường cho chúng tôi.
Người đàn ông dẫn đường cho chúng tôi trạc 60 tuổi, từng là lính của chế độ Sài Gòn cũ, ông cùng gia đình sống ở chân đồi 61 đã hơn 30 năm nay. Hôm nay cùng chúng tôi lội sông băng rừng, trên đường ông ấy không chỉ giải thích cho chúng tôi những câu hỏi về rừng, về dòng sông hôm nay mà còn là ký ức thời lính trận, khi hai chúng tôi ở hai chiến tuyến. Cũng là một dịp tôi hiều thêm về người lính đối phương xưa, họ hầu hết là những người nông dân chất phác hiền hậu, càng thấm thêm nỗi đau đất nước
Hơn 30 năm vứt bỏ áo lính, trở về với rừng, nước Ô Lâu, ông và gia đình lấy nghề rừng để sống. Nay tuổi cao không đi rừng nữa, ông bảo chân đã yếu rồi, vậy mà đi với chúng tôi ông cứ băng băng. Khi hỏi, thì ông bảo người dân vào rừng là để kiếm sống, là song mây, lá nón mỗi khi về trên lưng phải cõng 40, 50 kg chứ vào rừng chơi nhởi như chúng tôi thì sức còn dư. Hai vợ chồng sinh được những bốn con, năm thằng ( hai thằng đã mất, tôi không tiện hỏi ), ngần ấy miệng ăn mà chỉ trông vào mấy sào đất vườn với trồng rừng được chia sao đủ để sống, phải gắn với rừng chứ làm sao trụ nổi. Vậy là nghề rừng đôi khi lại là nguồn sống chính của gia đình ông. Tôi không thể hình dùng được những năm trước đó hai vợ chồng ông nuôi nổi từng ấy đứa con chỉ bằng nghề đi rừng. Ông kể ngày đó cực lắm loay hoay với đất trồng gì cũng hỏng, nhưng rồi cũng qua được, giờ lũ con đã lớn đều đi làm xa cả, có đứa làm ăn tận Sài Gòn. Ở lại nhà còn vợ chồng cậu con trai út, ngày ngày cạo mũ cao su khi vãn việc lại ngược sông kiếm cá về bán, thêm ít tiền bồi dưỡng cho cô vợ trẻ đang mang bầu.
Chuyện về cuộc sống hôm nay của người dẫn đường, của người dân vùng thượng Ô Lâu thật dài, dân nơi đây còn nghèo, không thấy bóng cây lúa, đã thử trồng lạc rồi trồng đậu nhưng chưa thấy khả quan gì, nguồn sống trông cả vào rừng và những đồi cây keo tai tượng. Rồi lũ lụt, dòng sông xanh trở màu đỏ đục, nước sông cuồn cuộn hung dữ phá đi bao công sức con người tạo dựng. Nhìn những rác mắc trên ngọn cây sau cơn bão số 9 mới biết lũ nguồn dữ dội hơn xưa nhiều lắm. ( còn tiếp )
Một bản dân tộc sống ở cửa rừng








ĐN ngã, đang kiểm tra lại đồ







Đường rừng len lỏi





Mời nhau điếu thuốc







Cây mây




Đánh dấu lên cây khoang tầu phòng lạc rừng


Cây lá nón







Đi trên đường của lâm nghiêp






Khắc Việt

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2009

Xin chúc tất cả ACE vui khỏe và hạnh phúc trong mùa Giáng Sinh 2009 và tết Tây 2010


Xin kính chúc tất cả ACE một giáng sinh 2009 và tết Tây 2010 vui vẻ.
Đây là năm đầu của chính quyền tổng thống Mỹ đen Obama nên tôi nghịch phá một chút cho vui.

VTP K7

Tuyết đầu mùa

Cách đây ít lâu, bạn tôi viết thư : « Bên đó đã lạnh chưa ? Khi nào có tuyết thì nhớ gửi vài dòng tả cảnh tuyết rơi nghe. Từ hồi về nước tới giờ, đã hơn ba chục năm, không còn được ngắm cảnh tuyết rơi. Nhớ quá ! ». Tôi trả lời bạn : « Chờ khi tuyết rơi mới viết thư thì chắc còn lâu lắm mới có thư. Cái xứ Bỉ này ít tuyết lắm. Mà có thì cũng có muộn lắm, phải tới sau Noel kia ». Từ khi tôi qua đây, năm nào cũng vậy, mỗi năm giỏi lắm được thấy tuyết vài ba ngày, và phần lớn là phải sau năm mới.

Vậy mà năm nay, không biết vì hậu quả của việc biến đổi khí hậu, hay vì Trời chiều lòng bạn tôi mà mới giữa tháng 11 đã mịt mù tuyết. Sáng thứ bảy, chừng 9-10h sáng, trời đất bỗng sầm xuống rồi từng bông từng bông tuyết quay quay trong gió, đổ xuống một Brussel còn uể oải ngủ rốn vào ngày cuối tuần. Tuyết mới, tuyết đầu mùa nên còn ướt lắm. Với lại mặt đất còn chưa đủ lạnh nên bông tuyết chạm xuống đường là tan ngay. Tuy nhiên, vì trời đầy mây xám xịt, gió khá mạnh, tuyết bay loạn xạ và lẫn cả mưa nên quang cảnh trở nên buồn và lạnh. Cây phong góc ký túc xá, vốn rực rỡ nhất khuôn viên của trường vào những ngaỳ thu, giờ lá rụng gần hết, chỉ còn trơ trọi những cái cành khẳng khiu. Vài cái lá còn sót lại trên cây, run rẩy trong gió và tuyết gợi nhớ câu chuyện « Chiếc lá cuối cùng » của O’Henry.

Đã có kế hoạch phải vào trung tâm từ trước nên tôi vẫn khoác măng tô, dũng cảm bước ra đường. Giá mà như ngày xưa, thời còn sinh viên thì có lẽ chẳng phải « hô khẩu hiệu » để lấy tinh thần như thế. Cứ thấy tuyết bay ngày đầu tiên thế này thì dù nhiệt độ ngoài trời có là âm bao nhiêu đi nữa chúng tôi cũng phải chạy ào ra sân, xúc tuyết đắp thằng người Tuyết rồi bốc tuyết ném nhau, nếu có trượt chân ngã nhào ra tuyết thì cũng chỉ thấy những tiếng cười dòn dã trêu chọc nhau mà thôi. Bây giờ thì không còn ham muốn ‘hòa cùng với tuyết » ấy nữa, không hiểu vì ngại sức khỏe chẳng cho phép, ra tuyết lạnh rồi về lại viêm họng hoặc trượt chân ngã rồi gãy xương mãi chẳng lành hay tại bè bạn xưa đã xa tít tắp...

Ngồi trên tàu điện ngầm lo lắng đến khi lên phố đường trơn, gió mạnh nhưng khi vừa chui lên khỏi mặt đất thì bao nhiêu lo âu tan biến. Mùi hạt dẻ nướng thơm lừng ấm áp. Ở góc đường sát bến tàu điện ngầm, mùa đông lạnh bao giờ cũng có một kios nhỏ bán hạt dẻ và bao giờ cũng chỉ có vào những ngày đông lạnh. Bà già phúc hậu, đeo tạp dề trắng đứng sau quầy đều tay đảo những hạt dẻ rừng trên một cái lò đốt bằng than củi, hạt nào hạt nấy to, nâu sậm đều tăm tắp. Trước khi bỏ lên rang, hạt dẻ được khía sẵn một đường, nên khi rang chín hạt hơi nứt ra một chút, để lộ màu nhân trắng ngà mời gọi và có lẽ nhờ vậy mà mùi thơm của hạt dẻ rang cũng tỏa ra nhiều hơn, xa hơn, thơm hơn. Dù là giá cả của đặc sản mùa đông châu Âu này chẳng lấy gì làm rẻ, nhưng lần nào vào phố vào ngày mưa hay tuyết lạnh tôi đều không thể bỏ qua không mua một túi nhỏ để nhấm nháp. Hít hà mùi thơm của hạt, giữ hạt dẻ lâu hơn một chút trong lòng bàn tay cho hơi nóng của hạt sưởi ấm mình một chút rồi cạy bỏ lớp vỏ cháy để lấy cái hạt béo bùi ngọt cho vào miệng, dù biết là sau vài ba hạt, tay mình và có khi cả mặt mình sẽ nhem nhuốc vì nhọ. Và lần nào cũng như lần nào, mùi thơm và vị ngọt của hạt dẻ rang trên đường phố châu Âu cũng đưa tôi về với những ngày mưa phùn gió bấc Hà nội và mùi thơm ngô nướng góc phố nhà tôi.

Tuyết vẫn còn rơi. Phố xá, xe cộ bắt đầu trắng. Mai chắc đi lại sẽ khó khăn hơn đây. Nhưng hôm nay thì tôi vẫn muốn xòe tay hứng một bông tuyết đầu mùa, với những họa tiết đẹp đẽ của nó để nhớ những mùa tuyết đã qua thời còn rất trẻ. Không thể gởi cái lạnh của mùa đông phương bắc, không thể gửi một bông tuyết đang rơi, cũng như mùi thơm hạt dẻ rừng rang cháy cho bạn, đành gửi một dòng thư ngày có tuyết đầu mùa...

P/S : Bài này tôi viết về mùa tuyết năm ngoái lận. Còn năm nay ngày tôi từ Việt nam quay lại Bỉ, tuyết ngập mênh mông, giao thông tắc nghẽn, sân bay hỗn độn vì những chuyến bay bị đổi giờ và những đống hành lý sai địa chỉ. Nếu hôm nay ai bảo tôi viết về cảm nhận của tôi về tuyết thì chưa biết sẽ viết thế nào đây…

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Merry Christmas

Chúc mọi người có một Giáng sinh vui vẻ!

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2009

Bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao

Hôm nay 22/12/2009 kỹ niệm 65 năm ngày thành lập QĐNDVN, đọc báo Quân đội thấy có đăng bài thơ Núi Đôi, một bài thơ hay của nhà thơ Vũ Cao trong thời kỳ kháng chiến, được nhiều người thích, bạn bè mình cũng có thể có người đang tìm bài thơ ấy, mình chép lại một số khổ thơ hay để các bạn nào không đọc báo Quân đội đọc, coi như món quà nhỏ gửi tặng các bạn nhân ngày 22/12.
Núi Đôi
Bảy năm về trước, em mười bảy
Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng
Xuân dục, Đoài đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới, bữa anh sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

Anh vào bộ đội lên Đông bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân dục, núi Đôi chăng?

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Anh ghé thăm nhà, thăm núi Đôi.

Mới đến đầu ao, tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thửa
Em sống trung thành, chết thủy chung.

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em.

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo:
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng?

Ai viết tên em thành Liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

Mời họp mặt.

Kính mời các thày cô, mời các bạn K7 và gia đình, các anh chị em Trỗi, bạn trường Bé và đại diện các khóa đến dự buổi họp mặt và giao lưu thường niên Trỗi K7SG vào lúc 11h trưa Chủ nhật ngày 27 tháng Mười Hai 2009 tại nhà hàng Lẩu cá Thanh Đa số 102/7 Xô viết Nghệ Tĩnh P.25 Q. Bình Thạnh.
Rất mong mọi người đến dự thật đông vui.
(Chân cầu Thanh Đa rẽ phải có biển nhà hàng.)

Ban liên lạc Trỗi K7SG

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

21-12-2009 K8 dự đám cưới con Bình + Tuấn



Posted by Picasa

TRÂN TRỌNG CHÚC MỪNG NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM .

Các ÚT QUẾ xin chân thành chúc mừng các đại ca, đại tỉ đã, đang và mãi mãi là chiến sỹ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM nhân ngày lễ trọng đại này. Chúc các tỉ, ca sức khoẻ, hạnh phúc và luôn luôn là lá chắn vững chắc cho VIỆT NAM chúng ta .



QUẾ RÁO " DUYỆT BINH " ( lời bình của chợ QUẾ ).
( đây là tiết mục " NĂM ANH EM TRÊN MỘT CHIẾC XE TĂNG " do các QUẾ biểu diễn vào ngày 20/12/2009 tại TPHCM nhân dịp họp mặt kỷ niệm 55 năm ngày thành lập trường HSMN .)

VÌ NHÂN DÂN QUÊN MÌNH

Nhân dịp Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt nam (22/12/1944 - 22/12/2009). Mời anh em cùng nghe lại bài hát truyền thống này.

VÌ NHÂN DÂN QUÊN MÌNH
Sáng tác: Doãn Quang Khải

Vì nhân dân quên mình
Vì nhân dân hy sinh
Anh em ơi, vì nhân dân quên mình
Đoàn Vệ quốc chúng ta ở nhân dân mà ra
Được dân mến, được dân tin muôn phần

Thề vì dân suốt đời
Thề tranh đấu không ngừng
Vì đất nước thân yêu mà hy sinh
Thề diệt hết đế quốc kia, giành tự do hòa bình
Đoàn Vệ quốc quên mình vì nhân dân

Thề noi gương Bác Hồ
Vì nhân dân gian lao
Trong bao năm Người tranh đấu không ngừng
Người chỉ biết có dân, ngày ngày lo sao cho
Toàn dân ấm, toàn dân no, được học hành

Người chỉ vui khi nào
Toàn dân hết đau thương
Người tranh đấu đem tương lai về cho dân
Đoàn Vệ quốc chúng ta là con yêu của Người
Thề noi gương suốt đời vì nhân dân.

CHUYỆN NHỎ THỜI BAO CẤP

Thấy quen quen !
Thời buổi hòa nhập, cánh viên chức quèn và thảo dân ta mới có dịp đi đây đi đó. Phương tiện giao thông cao cấp như máy bay, khách sạn cao cấp hay nhà nghỉ ai mà chả biết ít nhất vài lần. Tôi cũng vậy, vốn là cái thằng hay đi, tuổi ngựa nên “ phượt “ cũng nhiều, chuyện ăn ở trên đường là thường xuyên. Lúc sang thì máy bay, sao này sao kia, lúc hèn thì nhà nghỉ phòng trọ, xe đò tàu hỏa cũng chẳng sao, cốt là được tung tảy theo ý muốn của mình.
Không biết các bác thấy sao (?), chứ tôi mỗi lần ở khách sạn nhìn một số vật dùng trong phòng nó gợi lại cái gì đó quen quen mà không nhớ nổi. Từng ấy năm mà không luận ra được quen quen ở cái gì, cho tới cái dịp lại được cùng xếp trưởng phòng cũ ( này đã là doanh nghiệp tư nhân ) đi dự hội thảo Quốc tế ở Ba Lan mới ngộ ra…
Lần ấy vô tình gặp xếp cũ, ông ấy đang chuẩn bị đi dự hội thảo tinh dầu Quốc tế rồi rủ tôi đi, ông ấy bao hết trừ tiền vé. Sẵn máu “ ngựa “ tôi bám càng xếp cũ làm một chuyến du Âu. Hai anh em ngồi 11 tiếng đồng hồ trên máy bay, để ý thấy cứ mỗi lần vô tolet lại thấy ông xếp cũ cầm ra một cục xa bông nhỏ đựng trong cái bao giấy màu nhỏ khá bắt mắt. Tôi ngạc nhiên hỏi :
- Anh lấy làm chi !
- Thói quen cũ mà, chừ vẫn chưa sửa được.
Bác ấy trả lời tôi rồi còn bầy cách vô trong đó, kiếm nút này nút nọ, ấn một nhát là ra một cục. Rồi xếp kể, ngày bao cấp mỗi lần theo xếp trên đi nước ngoài bác ấy đều làm thế, một lần vô Tolét là trong túi có 5,6 cục xa bông con. Không thế thì lấy gì làm quà cho bọn con gái trong phòng và tụi bay mười mấy đứa.
Thì ra vậy ! thế mà ngày ấy các em trong phòng cứ xuýt xoa, hà hít khen xếp chu đáo mỗi khi cầm trên tay cục xà bông nhỏ. Còn cánh đàn ông chúng tôi thì thằng cây bút bíc, thằng chiếc lược, cái gỗ, cái nhựa cũng thấy hay hay ngộ ngộ có đâu biết rằng toàn đồ xếp gom về từ mấy ngày nằm khách sạn . Ờ ! ra là quen và nhớ cái thời bao cấp, tôi ngậm ngùi buông một câu :
Xếp ngày đó khôn thế !
Chưa là cái chi mô ! Tau còn thua xa xếp…
Ông xếp cũ của tôi làm điệu bộ trỏ ngón tay lên trời rồi cười khà khà.

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2009

Họp mặt truyền thống K8, tại Hà nội.

Sáng 19/9/2009 tại Hà nội, BLL K8 đã tổ chức buổi gặp mặt truyền thống hàng năm nhân kỷ niệm ngày thành lập QĐNDVN 22/12.

Với mục đích tổ chức để các bạn đến tham dự được đông đủ nên lần gặp mặt năm nay BLL đã tổ chức thông báo theo đầu mối các B và để nhiều anh em không có điều kiện đi xa có thể đến dự được. Buổi gặp mặt năm nay rất vui vì có sự tham gia của một số bạn từ khi giải tán trường đến giờ mới có dịp lần đầu gặp lại được bạn Trỗi như : Tô Quốc Hòa (B1, B3), Đàm Quang Lương (B1), Hồng Hải, Tuấn Duy (B2), Nguyễn Huy Cường (B6)...và có sự góp mặt của một số bạn từ Sài gòn ra như: Đặng Chính Nghĩa, Đỗ Quang Thạch, Quách Hoàn Kiếm, Nguyễn Minh Tuấn, Trần Đình Quyết, Dương Đức Hải. Đại diện các khóa trên có các anh Hữu Thành, Đại Cương K4, Mạnh Thanh K2.
Bùi Thắng đại diện BLL K8 HN đã thông báo tình hình hoạt động của anh em khóa 8 trong năm qua. Buổi gặp mặt năm nay về số lượng anh em tham gia cũng tương đối đông so với mọi năm, số anh em ở HN là 62 người, một số bạn do bận công việc không có điều kiện tham dự cũng gọi điện thoại gửi lời chúc vui tới mọi người.
Rất tiếc số bạn nữ C11 vì lý do cá nhân không tham dự được nên duy nhất chỉ có Nguyễn Thị Thái.
Giữa buổi một số anh em chưa có dịp quay lại thăm Trung hà, đã tổ chức một chuyến xe đi Trung hà và lên thăm cơ sở của Sùng Hải tại Sơn tây.




Gặp nhau ôn lại chuyện cũ rất nhiều, niềm vui gặp nhau được thể hiện qua một số hình ảnh buổi họp mặt dưới đây:

Cuối buổi, do “dư " năng lượng nên Ngọc Thăng và Quang Tuệ nhớ lại và thể hiện môn “chiến sĩ khỏe” năm xưa.

Quang Vũ K7 gửi đăng tin mời.


Trân trọng kính mời các bạn tới dự lễ thành hôn của hai chúng tôi:
QUANG VŨ                            HỒNG THƠM
Hôn lễ dược tổ chức vào hồi 16h30 ngày
           Thứ sáu 01/01/2010
(Tức ngày 17 tháng 11 năm Kỷ sửu)
Tại khu Nhà E, Khách sạn La Thành - Đường Vạn Phúc, Hà nội.
              Rất hân hạnh được đón tiếp!
     Chú rể                                        Cô dâu
QUANG VŨ                            HỒNG THƠM

Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2009

Vết thương

BaChai và Trungthụt thân tặng các cựu chiến binh BT bài hát này nhân kỷ niệm ngày QĐNDVN.



Gửi bạn Trỗi Tuy hòa

Sáng nay xem ảnh KV và ĐN gặp Huỳnh Hòa Bình ở Tuy hòa, mình lại viết tiếp mấy dòng về HHB. Năm 1970, khi trường Trỗi giải tán, mình và HHB về học cùng lớp 10A trường cấp 3 Ba đình ( Chu văn An buổi chiều ) rồi cùng đi bộ đội đợt 6/1/72, nhưng sau đó thì mỗi đứa đi một đơn vị khác nhau. Năm 1973 mình ở Quảng trị ra cùng Ngô Tất Thắng và Hà Hùng Thắng về học ở trường Sỹ quan Công binh ở Bắc ninh, còn HHB thì học ở trường SQ Phòng không ở Sơn tây. Năm 1975, đang học năm cuối thì khí thế ra chiến trường tham gia chiến dịch giải phóng MN lại bừng bừng trong các học viên SQ. Lúc đó ai cũng muốn ra trường sớm để được tham gia chiến dịch lịch sử này. Trong tâm trạng nóng lòng ấy, mình đã viết bài thơ tặng HHB, giờ mình chép lại để Bình và các bạn đọc để thấy cái khí tuổi trẻ lúc ấy sao mà dữ dằn vậy:
Tâm sự với bạn đồng ngũ
Có lẽ nào ta không đạt ước mơ
Khi hai đứa cùng viết đơn tình nguyện
Huỳnh Bình ơi, ngoài tiền phương thắng lớn
Mà chúng mình vẫn chưa được ra đi !

Học có yên đâu khi tiếng súng vọng về
Dẫu biết rằng học cũng là nhiệm vụ
Nhưng sao cứ thấy nôn nao quá
Muốn được cùng nhau ra ngay chiến trường !

Cậu ở pháo binh, tớ công binh
Ngoài mặt trận đang cần tất cả
Nếu đươc đi, báo cho mình ngay nhé
Chiến dịch này phải có đôi ta !

Bắc ninh 4/1975

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2009

Gửi bác TM

Trông "con" này "chiến" quá! bác TM có nó chắc anh em sẽ được xem nhiều ảnh đẹp.