Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Gặp thầy giáo cũ

Các bạn B4 khóa 8 trường Trỗi còn nhớ thầy giáo này không? Thầy hiện ở nhà số 9, ngõ 11, đường Đầm Vạc, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc


Sau đây là bài thơ của thầy nói lên cảm xúc gặp lại học trò nay đã là tướng quân

 

Cảm xúc khi thầy gặp bạn đồng nghiệp cùng dạy tại trường Trỗi ( thầy Hưng dạy toán)


Thầy trò gặp nhau sáng 24/9/2015 tại tư gia của thầy











Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

k7 cùng BLL Trường VHQD-TSQ NGUYEN VAN TROI



Video 8 phút
thaichik3
Sáng 12-9,BLL nhà trường ra quyết tâm chuẩn bị,tổ chức tốt nhất cho Đại lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Trường 15-10-1965-2015 và chúc mừng Lễ gặp mặt Khóa 7 thành công tốt đẹp, khóa 7 đã triển khai ,và hưởng ứng các nội dung của BLL trường phổ biến với Tình cảm rất Đồng đội...Video 8 phút cố gắng xin nói lên những điều chân tình đó.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Trở lại chốn xưa!

Từ 28/7 đến 31/7/2015 bạn Ngô Hoàng Hà (B6) cùng các bạn Phan Thanh Hà (B4), Phan Việt Dũng (B1) và anh Phan Hữu Bằng K2 (anh ruột Phan Việt Dũng) đã có chuyến đi du lịch Quế Lâm cùng cơ quan Hà. Dù thời gian không nhiều nhưng với khát khao tìm lại chốn xưa, mọi người đã tách đòan tìm về trường cũ. Dưới đây là một số hình ảnh Ngô Hòang Hà muốn chia xẻ cùng bè bạn.
Cầu Ly Giang xây dụng mơi năm 1982 nhìn từ sông Ly Giang;
Trên sông Ly Giang;
Núi Vòi voi;
Cầu Giải Phóng cũ;
Tên phố trường Y trung cũ;
Cổng trường Y trung cũ, nay đổi thành tên trường mới;
Cổng trường Y Trung ở vị trí mới;
Sân bóng trường Y Trung cũ;
Công viên Quế Lâm;
Núi Lạc Đà - Quế Lâm.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Mua sách Sinh ra trong khói lửa tập II

Vẫn biết SRTKL2 đã có trên mạng, mình xin đăng thông báo này: Do ngày xưa anh em ta nghèo không có tiền mua sách hoặc do khâu phân phối chưa tốt nên cuốn sách hay chứa nhiều kỷ niệm đẹp về trường chưa tới được tay người cần. Hiện Hồ Bá Đạt B5 vẫn còn giữ một số thùng sách, không biết còn bao nhiêu cuốn. Vậy những bạn nào 1. chuộng sách giấy, 2. không nghèo và 3. yêu những kỷ niệm về trường mà chưa có SRTKL 2 thì đăng kí mua. Những bạn nào có 1 và 3 mà có hòan cảnh khó khăn thì đăng kí xin. Hãy nhắn tin cho mình theo số 0904678769: Họ và tên, B ..., đk mua (hoặc) xin SRTKL2 để mình nhờ chuyển sách ra Hà Nội. Sách sẽ được tặng hoặc bán tại Hội trường vào ngày 11/10/2015. Đạt là người tặng sách. Ai mua thì mang thêm khoảng 100K đi hội trường.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

Thông Báo của Ban Liên lạc Cựu Học sinh và Giáo viên trường VHQĐ NVT

Thông báo dưới đây được anh Ngô Thế Vinh, trợ lý của anh Bùi Vinh - Trưởng Ban LL, đăng trên Faceboook BanNVT, mình xin đăng lại ở đây để bạn K8 xa gần biết, nhất là về kế hoạch Hội trường kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường. Các bạn ở xa Hà Nội cố gắng về tham dự gặp lại bạn bè và các anh chị năm trên, cũng là để thăm hỏi các thầy cô mà e rằng dịp 55 năm khó gặp được. Máy mình bị lỗi nên mọi người thông cảm nhé..... Thông báo kết luận họp BLL Trường Nguyễn Văn Trỗi ngày 15/08/2015 Hôm nay, ngày 15/08/2015 tại Hà Nội, BLL Trường VHQĐ – TSQ Nguyễn Văn Trỗi đã tổ chức họp mở rộng cùng đại diện các Khoá. Thành phần tham dự gồm có: Thầy Võ Tài Mạnh – Các anh chị em các Khóa: Lê Kinh Tuyến K1 – Lương Sơn, Chu Kỳ Minh K2 – Bùi Vinh, Lữ Thái, Thái Chi, Song Yên K3 – Đoàn Thao, Trần Văn Lưu, Cát Thịnh K4 – Hoàng Việt, Ngô Thế Vinh K5 – Vũ Điện Biên, Nguyễn Văn Thắng K6 – Trần Thế Dân, Tống Ngọc Tráng K7 – Bùi Thắng, Nguyễn Thị Thái K8. Tham dự họp còn có anh Trần Kiến Quốc K5, Phó trưởng BLL Trường NVT ở phía Nam. Trưởng BLL Bùi Vinh chủ trì cuộc họp gồm các nội dung sau: 1. Tổng hợp các hoạt động từ cuộc họp lần trước. 2. Bổ sung nhân sự BLL Trường. 3. Những nội dung công việc chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường (15/10/1965 – 15/10/2015) Những nội dung trên đã được thảo luận và thống nhất kết luận như sau I. Nội dung thứ nhất: Tổng hợp các hoạt động từ cuộc họp trước (21/05/2015) 1. Vào dịp kỷ niệm ngày Thương Binh, Liệt Sỹ 27/07/2015. BLL Trường đã phối hợp với BLL các khóa ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam đến nhà thăm hỏi, thắp hương các Liệt Sỹ ở gia đình, hoặc đến các nghĩa trang Liệt Sỹ, nơi các Liệt Sỹ yên nghỉ thắp hương, ghi nhớ công lao, sự hy sinh, cống hiến của các Liệt Sỹ cho Tổ Quốc. Nhân dịp này, các Khóa cũng đã tiến hành thăm hỏi, gặp mặt các Thương Binh 2. BLL Trường đã cử đoàn đại biểu đại diện Trường VHQĐ – TSQ Nguyễn Văn Trỗi, lên Mỹ Yên dự Lễ công bố và đón bằng công nhận xã Mỹ Yên đạt chuẩn “Nông thôn mới ” năm 2015, Chứng nhận Di tích cấp tỉnh và đạt các tiêu chí Quốc gia về Y tế năm 2015. 3. Các Khóa đã có những hoạt động họp mặt truyền thống, kỷ niệm ngày nhập ngũ, ngày ra trường, ở cả trong nước và nước ngoài, như Khóa 3 tổ chức họp mặt tại TP Hồ Chí Minh, Khóa 5 tổ chức họp mặt tại Quảng Ngãi ... Các anh em Bạn Trỗi đi thăm châu Âu đã cùng anh em Bạn Trỗi ở nước ngoài gặp mặt tại Budapest hướng về Tổ Quốc, hướng về kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường... 4. Trong dịp này trên VTV2 đang phát chương trình về “Những người làm Cách mạng Tháng 8 ở Hà Nội”, do Trần Kiến Quốc K5 và một số Bạn Trỗi các Khoá đã tích cực tham gia góp nhiều tư liệu quý, trong các nhân chứng lịch Sử có nhiều Cụ là các Phụ huynh của Bạn Trỗi. 5. Bạn Trỗi các Khoá đã đến dự Lễ cưới con trai chị Lư Mỹ Niệm được tổ chức tại Hà Nội. II. Nội dung thứ hai: Bổ sung nhân sự BLL Trường: BLL Trường thông báo bổ sung chị Song Yên K3 vào BLL Trường, phụ trách khối C11. III. Nội dung thứ ba: Những nội dung công việc chuẩn bị cho ngày Hội Trường nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập (1965 – 2015). 1. Về việc xuất bản sách “SRTKL” tập 4, anh Trần Kiến Quốc đã thay mặt Ban Biên tập thông báo về việc biên tập, xuất bản sách - Hiện nay chế bản điện tử đã xong, BBT đang kiểm tra lần cuối để chuẩn bị xin phép xuất bản và in sách. - Sách tập 4 với hơn 900 trang, được in trên giấy nhẹ, xốp. BBT đảm bảo thời gian và chất lượng sách theo yêu cầu đề ra. - Về giá sách phát hành: Ưu tiên các Khoá đăng ký và nộp tiền trước với nguyên giá là:100.000 đ/cuốn. (Các Khóa đăng ký số lượng sách mua và nộp tiền cho Ngô Thế Vinh K5 trước ngày 25/08/2015). Tại ngày Hội Trường sẽ bán và thu tiền trực tiếp với giá 125.000 đ/cuốn. - Các Khóa đăng ký mua bổ sung "Huy hiệu Trường NVT ": Trực tiếp đăng ký số lượng và chuyển tiền trực tiếp cho anh Kiến Quốc (0903830939) trước ngày 25/8/2015 để kịp chuẩn bị trước ngày Hội Trường. 2. Hội Trường kỷ niệm 50 năm ngày thành lập (15/10/1965 – 15/10/2015) với phương châm: Đông đủ - Trang trọng - Tiết kiệm - An toàn. - Lễ kỷ niệm được tổ chức ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam (Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. - Tại Hà Nội: Từ 08h30 đến 13h30, ngày 11/10/2015 (Chủ nhật), tại Cung Văn hóa Hữu nghị, số 91 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. + Phần Lễ được tổ chức tại Hội trường lớn. + Phần gặp mặt, liên hoan, giao lưu văn nghệ: Tại sảnh tầng 2, được tổ chức chung học viên tất cả các Khoá cùng với các Thày Cô, cán bộ CNV nhà trường, đại diện các phụ huynh, gia đình liệt sỹ, đại biểu các địa phương đóng quân và BQP... - Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Được tổ chức vào ngày 04/10/2015 (Chủ nhật), tại hội trường nhà khách C59 B/BộQP - 20 đường Cộng Hoà. Tại Đà Nẵng (Sẽ thông báo sau). 3. Thành phần khách mời gồm: - Đại diện Phụ huynh các Khoá. - Đại diện gia đình tất cả các Liệt Sỹ. - Đại biểu các đơn vị, địa phương nơi nhà trường đã đóng quân: Thôn NgọcTân, Trường xe PKKQ, Xã Mỹ Yên, Trường Q.Lâm TQ, Trường Công binh, Lữ công binh QK2... - Đại biểu BQP, BLL Trường VHQĐ, BLL TSQ Việt Nam, BLL tiểu đoàn 1 TSQ, Trường TSQ Việt Bắc. - Giao cho BLL các Khóa trực tiếp mời đại diện Phụ huynh và tất cả các gia đình Liệt Sỹ của Khoá mình, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức đưa, đón chu đáo, an toàn. BLL các Khóa có trách nhiệm thông báo các nội dung chuẩn bị, thời gian, địa điểm Hội Trường cho tất cả anh chị em trong Khóa và mời anh chị em đến dự ngày Hội Trường đông đủ. 4. Về phần tài chính đảm bảo cho ngày Hội Trường: Do các Khóa đóng góp. Căn cứ báo cáo tài chính hiện nay, căn cứ tổng chi phí cho Lễ kỷ niệm 45 năm (2010) và căn cứ vào giá cả hiện nay (Thuê hội trường, trang trí, giá thực đơn cho liên hoan mặn của Cung Văn hóa ...) Hội nghị đã bàn luận chi tiết, cân nhắc, xem xét các chi phí cần thiết và thống nhất mức đóng góp như sau: - Khóa 1: 15 Triệu đồng. - Khóa 2: 20 Triệu đồng. - Các Khóa 3, 4, 5, 6, 7, 8: Mỗi Khóa 40 Triệu đồng. - Thời gian nộp tiền chậm nhất: Ngày 20/09/2015. Liên hệ nộp cho Ngô Thế Vinh K5. 5. BLL Trường sẽ trực tiếp thực hiện, giao nhiệm vụ cụ thể cho các cá nhân và bộ phận có thành phần các Khóa để triển khai cụ thể các nội dung chuẩn bị cho Hội Trường như : Công tác hậu cần, thuê hội trường, trang trí, văn nghệ, tiếp đón, in ấn thiếp mời, thẻ BTC, lên danh sách đại biểu, khách mời , truyền hình .v.v… Với chi phí tiết kiệm nhất. - Phiên họp BLL Trường mở rộng tiếp sau, tiến hành từ 08h30 đến 9h30 ngày 12/09/2015 tại Vườn Treo Pacific 281 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội. Sẽ thống nhất cụ thể hoá mọi nội dung, công việc cho ngày Hội Trường 11/10/2015 tại Hà Nội. Được đăng bởi Ngô Thế Vinh K5 trên trang BanNVT

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

"Sự cố đốt lửa trại ở Thanh Hóa là bài học cho hoạt động Đòan."

Hiện tại trên báo Tuổi trẻ Online có bài viết này nhưng không thể nào đọc được vì bị nhiễu. Chỉ có mỗi bài này bị nhiễu, các bài khác của chính báo này vẫn đọc được bình thường, các báo khác cũng không sao. Vậy là không phải do máy của mình bị lỗi rồi. Vì sao vậy ta?!

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Đề xuất tổ chức 1 Triển lãm mini "Những kỷ vật trường Nguyễn Văn Trỗi".
Bảo đề xuất trong Lễ Kỉ niệm 50 năm thành lập trường VHQĐ-TSQ Nguyễn Văn Trỗi vào tháng 10 tới,nếu có thể sẽ tổ chức 1 Triển lãm mini "Những kỷ vật trường Nguyễn Văn Trỗi".
ACE Trỗi có thể đóng góp các hiện vật liên quan đến thời học ở Trường ,kể cả thư từ,phim ảnh,...
Hiện vật sẽ gửi về cho Ban tổ chức trước 15 ngày để BTC chọn lọc,sắp xếp và trưng bày.
Hiện vật sẽ được trưng bày ở hành lang cung Hữu nghị Việt xô.
Xin Anh chị em Trỗi cho ý kiến.
Trọng Bảo K8.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Hát Quốc Ca ngày Hội trường 2015!

Theo báo chí, từ ngày 1 tháng 8 Hà Nội sẽ hát Quốc ca (nói thế cho nhanh) chứ không bật hát sẵn như trước. May quá! Chủ trương này có trước ngày Hội trường. Nếu không lại diễn ra cái cảnh casset hay mấy cháu của anh DMĐức hát hộ cả trường như những lần trước thì chán lắm.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

"Hổng bình"


NGUỒN http://soha.vn/xa-hoi/dai-tuong-phung-quang-thanh-da-den-du-chuong-trinh-truyen-hinh-truc-tiep-20150727201104188.htm
và coi

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Tin buồn

Trần Mạnh Tiến (Tiến bạc) B5 K8 trường Nguyễn Văn Trỗi từ trần. Lễ tang tổ chức từ 11h45 đến 13h30 ngày thứ Sáu 24/7/2015 tại Nhà tang lễ BQP số 5 Trần Thánh Tông, Hà nội. 
K8 viếng lúc 12h30'.

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

Thầy chúng mình sắp được ĐH Harvard công nhận là tiến sỹ!

Có một thông tin rất vui mình muốn chia xẻ cùng các anh chị và các bạn Trỗi: Trong một thời gian không xa, khi các thủ tục được hòan tất, ĐH Harvard của Mỹ sẽ cấp bằng Tiến sỹ cho thầy Lực. Thông tin chi tiết mọi người có thể đến hỏi trực tiếp thầy.
Bức ảnh trên được thầy Lực vẽ trong một hòan cảnh rất đặc biệt, gắn với những trang buồn của trường Trỗi. Sau vụ học sinh đánh bạn dẫn đến tử vong hồi ở Trung Quốc, thầy Lực được giao nhiệm vụ dẫn độ một học sinh về Quảng Bình trao trả cho gia đình. Sau đó thầy được ghé thăm nhà. Đó là dịp thầy chứng kiến sự việc như trong bức tranh mà thầy đã dùng cọ ghi lại. Nó trái ngược với hòan cảnh của những trò Trỗi của thầy. Vậy mà!

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Chuyện của cô Nguyễn Thúy Lan

Trong căn phòng nhỏ dưới mái nhà cổ 34A Cao Bá Quát, cô Nguyễn Thúy Lan bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm về trường Nguyễn Văn Trỗi, trong đó có bóng hình người chồng đầu tiên của mình. Nghẹn ngào và cố ngăn dòng nước mắt ngập nặng hai hàng mi của người phụ nữ dù đã ở tuổi 74 nhưng vẫn còn rất đẹp, cô thủ thỉ những lời tâm sự: Chú Nguyễn Nhật Tân: Chú Nguyễn Nhật Tân và cô tìm hiểu nhau trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Chú từng là thủ khoa khóa I ngành Hóa học trường Đại học Bách khoa HN. Ra trường, chú là giáo viên trường Hậu cần bên Gia Thượng. Khi chiến tranh lan rộng ra miền Bắc chú được bổ xung vào đơn vị tên lửa đầu tiên. Đám cưới của cô chú được tổ chức khoảng 4-5 ngày trước khi cô theo trường mình sang Trung Quốc còn chú theo đơn vị tên lửa vào phía trong. Sau này cô mới biết khi đó đơn vị chú được giao nhiệm vụ tìm hiểu cách đánh B52 mà theo như sự tiên đoán tài tình của Bác Hồ thì Mỹ sẽ dùng B52 đánh phá miền Bắc và chỉ có một trận đánh dập đầu B52 tại miền Bắc mới có thể làm thay đổi cán cân trên bàn đàm phán của ta với Mỹ tại Pari. Chuyện cổ tích: Sang trường ít lâu, cô nhận được một bức điện tín của chồng cô báo tin chú sẽ ra Hà Nội họp 10 ngày và hỏi cô có về Việt Nam được không? Cô nghĩ chú chỉ hỏi vu vơ thế thôi vì đang chiến tranh, cô lại ở tận Quế Lâm, Trung Quốc thì làm sao gặp chú được. Ấy thế mà chính chú lại là người ngỡ ngàng khi chỉ vài ngày sau đó, cô “từ trên trời rơi xuống” như trong chuyện cổ tích, bước ra khỏi một chiếc xe Volga đen trước căn hộ của gia đình chú ở khu tập thể Kim Liên. Người chấp bút cho câu chuyện cổ tích ấy chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh Cả của tòan quân, với sự cảm thông vô bờ dành cho hai chiến sỹ trẻ “Ngưu Lang Chức Nữ” của mình: Dịp đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc công tác có ghé qua thăm trường, còn cô đã thôi dạy tiếng Trung mà chuyển sang làm công tác đối ngoại nên được đi theo đoàn. Khi tiễn đoàn ra sân bay, bác Hoàng (bí thư của tướng Giáp, là bố của em Cường, hình như là học sinh khóa 2) có hỏi cô “... nếu bây giờ tôi xin phép thủ trưởng Văn cho đồng chí về thì đồng chí nghĩ sao?”. Về nội dung bức điện của chồng, cô có báo cáo với Ban Giám hiệu Nhà trường nên cô đóan chính thầy Quỳnh là người nói lại với bác Hoàng. Khi đó cô chỉ có hai tay không, nhưng mừng run lên trả lời ngay: “Em sẵn sàng về, quần áo em ở Hà Nội còn nhiều lắm, không lo đâu ạ!”. Chuyến chuyên cơ ấy của Đại tướng đã đem cô chú đến bên nhau trong lần hội ngộ cuối cùng. Chẳng bao lâu sau khi cô sang lại trường bên Trung Quốc thì chú hy sinh nhưng nhà trường giấu cô. Thầy Quỳnh bảo: “Đồng chí phải xác định được là nếu bị thương là có thể què chân què tay.” Cô nói: “Vâng, nếu què chân què tay cũng không sao, em đã xác định rồi.” Nào ngờ!... Khi đó cô mới 25 tuổi.
Chuyện như anh Trỗi chị Quyên: Toàn bộ thời gian cô chú được sống bên nhau kể từ ngày cưới chỉ chưa đầy hai tuần, còn ít hơn thời gian chị Quyên được ở bên anh Trỗi. Sống trong cảnh chiến tranh và ngày chia ly luôn cận kề, chú thương cô nhiều lắm. Hồi đó anh Trỗi là thần tượng của cả một thế hệ thanh niên. Khi đưa cô đi xem phim anh Nguyễn Văn Trỗi, chú bảo chú sẽ chiều cô hơn anh Trỗi chiều chị Quyên cơ. Chú xách nước cho cô tắm và làm đủ mọi thứ cho cô. Trường mình được mang tên anh Trỗi, còn cô và nhiều cô khác thì mang số phận như chị Quyên có chồng sớm hy sinh như cô Nhâm, cô Hồng, cô Thục... Các cô ấy còn kịp có được Tùng; Nguyên, Quảng; và Thiên Hương, còn cô chỉ có những kỷ niệm về người chồng tài ba, nhân hậu đã sớm bị chiến tranh cướp đi. Nhiều năm sau đó cô không thể quên người chồng thân yêu để tìm hiểu người khác. Sau khi ở trường Trỗi về, cô thi đỗ và vào học ở trường Dược theo nguyện vọng của chú, rồi ra đi làm. Sau đó cô lấy chồng là chú Triệu Huy Hùng - người mà mẹ chú Tân đã mai mối cho cô khi coi cô là con gái của bà. Vợ trước của chú Hùng mất vì ung thư, để lại cho chú hai cô con gái, còn cô sinh thêm cho chú hai cậu con trai. Lại quay về quân ngũ: Khi làm thủ tục xin về đi học dược, thầy Quỳnh nói cô phải học theo ngành dược của quân đội nhưng cô lựa chọn trường Đại học Dược ở Lê Thánh Tông nên phải ra quân. Khi tốt nghiệp trường dược, là vợ liệt sỹ, cô đựợc ưu tiên trong việc phân công công tác và cũng đã định đi làm ở Bộ Y Tế. Nhưng sau đó, khi lấy chú Hùng, cũng là một quân nhân thì chú đưa cô trở lại quân đội, làm trợ lý dược ở phòng quân y Bộ Tổng Tham Mưu. Thế là cô có trên 30 năm phục vụ trong quân đội với Huân Chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba và Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Sau này gặp lại thầy Quỳnh, cả hai phì cười vì trước đấy cô khăng khăng ra quân để được học ở ĐH Dược. Cùng hàng ngũ: Sau khi trường giải thể, có không ít cơ hội để thầy và trò trường Trỗi gặp lại nhau. Hoặc do ở trên cùng một con phố, như phố Lý Nam Đế chẳng hạn, hay gặp nhau trên một chuyến tàu cùng về quê. Đôi khi thầy và trò lại công tác cùng một đơn vị, thậm chí chiến đấu chung một chiến hào. Còn cô và Phượng K6 C11 thì đều là sinh viên trường Dược và có lần cùng đứng trong khối trí thức diễu hành ở quảng trường Ba Đình. Rồi cô miên man trong những kí ức về thầy và trò của trường Trỗi với không ít những câu chuyện vui. Đôi mắt đẹp của cô dần tươi trở lại và tiếng cười giòn vang căn phòng nhỏ nhưng treo đầy những bức tranh sống động tuyệt vời do chính cô thêu khi đã ở tuổi Thất Thập.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh bác Hoàng Quốc Việt

Bà Khuất Thị Bảy : Đóa quỳnh tỏa hương trong đêm

Bà Khuất Thị Bảy : Đóa quỳnh tỏa hương trong đêm
Bà Khuất Thị Bảy 

Dưới bóng người anh hùng Hoàng Quốc Việt (tên thật Hạ Bá Cang), bà Khuất Thị Bảy (bí danh Khuất Thị Vĩnh) chỉ được biết đến với vai trò của một vị phu nhân đáng kính, em ruột của ông Khuất Duy Tiến nổi danh. Tuy nhiên, những công trạng của bà dù hòa chung vào chiến công lớn lao của những người anh hùng cùng lứa vẫn mang dấu ấn riêng…

Chúng tôi gặp bà Hạ Chí Nhân, con gái ông Hoàng Quốc Việt –  Bà Khuất Thị Bảy vào sát ngày sinh nhật lần 94 của cụ Bảy, cũng là ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10) để nghe câu chuyện nhuốm màu huyền thoại mà ít người biết đến về người phụ nữ này.
 
Sinh năm 1920 tại thôn Thuần Mỹ, xã Mỹ Trạch Lộc, tỉnh Sơn Tây (cũ), bà Bảy tham gia cách mạng từ năm 1936, lúc vừa 16 tuổi. Bà là con thứ bảy của cụ Khuất Duy Đính, hương thân bậc nhất trấn Nam Sơn. Cụ Tổng Khuất Duy Đính có bảy người con gái mà thời ấy, dân trấn Nam Sơn khi vào hội hay nói rằng "Con nhà cụ Tổng ra hội là đẹp rực cả một góc hồ”, nói thế vì bà Khuất Thị Bảy đẹp, cái đẹp nền nã, đặc trưng của đất Bắc Bộ. 
 
 17 tuổi, Khuất Thị Bảy được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan liên lạc của Đảng ở Bắc Giang, ủy viên BCH Thanh niên tỉnh Sơn Tây, ủy viên Ban cán sự tỉnh Vĩnh Yên, ủy viên Ban công vận TP Hải Phòng… Tháng 9/1941 bà bị đế quốc Pháp bắt tại Hải Phòng và kết án 20 năm tù khổ sai, giam giữ tại các nhà tù Sơn Tây, Nam Định, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Thời gian bị tù, bà vẫn liên lạc với cách mạng bên ngoài và sau đó vượt ngục về hoạt động, xây dựng các căn cứ địa để bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng, làm ủy viên thường vụ tỉnh ủy Vĩnh Yên. Cũng tại Vĩnh Yên, bà Bảy đã có chiến công to lớn chặn đứng bàn tay của Quốc dân đảng trong việc nhúng sâu hơn vào chính trị nước Việt.
Thổ Tang, Vĩnh Tường, Vĩnh Yên, mảnh đất của những tỷ phú bây giờ vào thời kỳ sát Tổng khởi nghĩa là hang ổ của Quốc dân Đảng, việc buôn bán thông thương của mảnh đất này với giới Hoa kiều là điều kiện thuận lợi cho Quốc dân đảng cắm rễ tại đây… Tuy nhiên, khi nhận được thông tin Quốc dân đảng cũng đang chuẩn bị lực lượng giành chính quyền, bà Bảy, lúc đó hoạt động với bí danh Khuất Thị Vĩnh đã cùng Đặng Việt Châu quyết định triệu tập Hội nghị Việt Minh tại làng Bích Đại ngày 20-9 để quyết định giành chính quyền vào ngày 21-9 (dù thời cơ chưa chín muồi). 
 
Do hai con đê bị vỡ nên vùng này khó huy động được số đông quần chúng (sức mạnh chủ yếu của cách mạng lúc bấy giờ), tuy nhiên bà Bảy đã huy động 30 con thuyền chở 300 tự vệ, cán bộ tiến đến huyện đường khống chế tri huyện, giải tán lực lượng Quốc dân Đảng… Sau này, chiến tích và sự quyết đoán của bà Bảy khi đó đã minh chứng cho sự sáng suốt, cứu vãn được cả giai đoạn lịch sử. Đó là khi Quốc dân đảng có được 50 ghế ở Quốc hội Việt Nam non trẻ (không qua bầu cử) cùng lúc với quân đội Lư Hán (cánh tay phải của Quốc dân đảng) kéo vào với 2 vạn quân, nếu lúc đó, Nguyễn Hải Thần, thủ lĩnh Quốc dân đảng có được mảnh đất để xây dựng lực lượng của mình tại huyện Vĩnh Tường kề sát ngay Hà Nội thì có lẽ các cuốn sử cách mạng Việt Nam sẽ phải viết lại toàn bộ.
Khi ông Trần Huy Liệu cùng ông Cù Huy Cận  đứng trên đài cao nhận ấn kiếm thoái vị của vua Bảo Đại thì bà Bảy phải làm công tác "triều đình vận” tại cung tẩm. Bà Lê Thị Dinh, người cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn (Cung nữ nhưng gần như là "trợ lý” của Từ Cung Thái Hậu, vị  Thái hậu có tinh thần dân tộc lớn và có tầm ảnh hưởng lớn nhất tại triều đình Huế năm 1945). Trong  những tư liệu mà chúng tôi có được đã nói "Ngài (tức Bảo Đại) sau lễ thoái vị có ra nghỉ cung An Định (Cung nghỉ mùa hè) một đêm, rồi sau nghe Nam Phương Hoàng Hậu nên ra Bắc ngay để gặp Cụ Hồ”. Trước khi lễ thoái vị diễn ra, bà Bảy đã nhiều lần gặp Từ Cung Thái hậu và Nam Phương Hoàng hậu để làm công tác "triều đình vận”, vì thế chỉ ngay sau ngày độc lập, ngày 3-9-1945, Bảo Đại đã có mặt tại Hà Nội gặp Cụ Hồ vui vẻ nhận chức cố vấn của Chính phủ mới.
 
Cũng vì công tác "triều đình vận” còn nhiều phức tạp nên bà Bảy đã ở lại Huế làm thành viên Ủy ban Thành phố Huế. Gia đình ông Hoàng Quốc Việt có một sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử. Trong khi ông Khuất Duy Tiến (anh vợ ông Hoàng Quốc Việt, anh ruột bà Bảy) ngoài Hà Nội thuyết phục giới doanh nhân có được "Tuần lễ vàng” tại Hà Nội thì tại Huế, bà Bảy thuyết phục được Nam Phương Hoàng hậu làm cố vấn cho "Tuần lễ vàng” ở Huế. Còn ông Hoàng Quốc Việt cũng tổ chức "Tuần Lễ vàng” tại miền Nam.
 
Câu chuyện tình của ông Hoàng Quốc Việt và bà Khuất Thị Bảy cũng thật đáng nhớ. Ông Hoàng Quốc Việt và ông Khuất Duy Tiến ở tù của Pháp cùng nhau năm 1932, ông Khuất khoe bức ảnh của mẹ giấu mang đi được, ông Hoàng thán phục "Mẹ ông đẹp quá”, ông Khuất vui vẻ "Đám em gái nhà tôi cũng đẹp như mẹ, ra tù, có người nào giác ngộ cách mạng, tôi gả cho anh”. 
 
Trong hồi ký của Thượng tướng Chu Văn Tấn, Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên có trân trọng nhắc đến bà Khuất Thị Bảy là người trong đoàn của Tổng bộ Việt Minh lên thành lập đội Cứu quốc quân 3 (Sơn Dương, Tuyên Quang)
 
Ra tù, ông Hoàng Quốc Việt đến nhà ông Khuất Duy Tiến chơi, lúc đó là năm 1936, bà Bảy lúc đó 16 tuổi đang tuổi nhí nhảnh gọi ông Hoàng Quốc Việt là "anh già” – vì ông hơn bà 18 tuổi. Nhưng làm cách mạng không có nghĩa là khô cứng, là không biết yêu lãng mạn, có lần mấy chị em gái bắt được bức thư tình của "Anh già” gửi bà Bảy. Nhà bà Bảy có bảy chị em gái (ông Khuất Duy Tiến là anh trai và cũng là con trai duy nhất, bà Bảy hàng thứ bảy trong nhà) nên chị em nghịch ngợm mở ra xem. Đến câu cuối cùng, cả nhà ngơ ngác khi đọc "Anh sẽ yêu em đến cù nỳ”, "Cù nỳ” thực ra là chứ viết tháu của chữ "cùng”. Vậy mà đến tận năm 1945, hai ông bà mới cưới nhau. Sau khi đất nước độc lập, bà Bảy chuyển về  công tác ở Ban Tổ chức Trung ương và mất năm 1976.
 
Chuẩn bị cho ngày vinh danh Phụ nữ Việt Nam 20-10, cũng là ngày sinh của bà Khuất Thị Bảy, người nép bên cái bóng vĩ đại của chồng, anh hùng Hoàng Quốc Việt, lại càng thấy khâm phục những người phụ nữ Việt chiến tích oai hùng mà cả đời lặng lẽ như những đóa hoa quỳnh tỏa hương trong đêm.
Quy Lâm.

Nguồn: http://hokhuatvietnam.org/news/vi/news/Tin-tuc/Ba-Khuat-Thi-Bay-Doa-quynh-toa-huong-trong-dem-50/

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

Tin buồn!

Ban liên lạc K8 và C11 trường Nguyễn Văn Trỗi xin thông báo: Anh Lê Chí Dũng, là chồng bạn Vũ Minh Hà, cựu h/s B5 K8 C11 NVT, sau một thời gian dài lâm bệnh nặng, đã từ trần sáng nay, hưởng thọ 69 tuổi. Lễ viếng sẽ được tổ chức từ 7h30 đến 9h sáng thứ Hai, ngày 25/5/2015 tại nhà tang lễ Phùng Hưng, Hà Nội. Bạn Trỗi có mặt lúc 8h sáng cùng ngày để viếng anh Dũng. Xin chia buồn cùng Vũ Minh Hà và gia quyến.

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

Tướng Nguyễn Sơn

Hôm nay đọc thấy bài này viết về tướng Nguyễn Sơn. Thấm thoát mà đã đến ngày sinh nhật 100 năm của ông. Cố nhiên, tôi chỉ biết ông qua sách báo mà thôi, chứ ông ấy còn cao tuổi hơn Ba tôi. Lần đầu tiên tôi nghe đến tên ông là tôi nghe lén khi Ba tôi kể về ông này trong những buổi tiệc tùng ở nhà. Từ đó, tôi tìm hiểu và đọc khá nhiều về ông tướng có thể nói là huyền thoại này. Nghe nói gần đây vợ ông có viết một cuốn hồi kí mà tôi tìm chưa ra.
Ông Nguyễn Sơn tuy là nhà quân sự nhưng rất thích văn nghệ, và ông bảo vệ giới văn nghệ sĩ hết mình. Ít ai biết rằng ông tướng này chính là người đứng ra làm lễ thành hôn cho Phạm Duy và Thái Hằng trong thời kháng chiến. Phạm Duy có viết hồi kí và có hẳn 1 chương viết về tướng Nguyễn Sơn. Xin trích lại đây vài đoạn để các bạn biết thêm về tướng Nguyễn Sơn (đây là đoạn viết khi Phạm Duy và đoàn văn nghệ về Thanh Hóa vào thập niên 1940s):
Nhưng người mà tôi mong được gặp nhất ở đây là tướng Nguyễn Sơn. Tôi được nghe rất nhiều huyền thoại về ông từ khi danh tướng có nhiều kinh nghiệm chiến trường này từ Trung Cộng trở về nước rồi được Hồ Chí Minh cử vào Quảng Ngãi để lập một mặt trận với mục đích ngăn không cho Quân Đội Pháp mở rộng chiến trường ra phía Bắc vào những ngày đầu của cuộc kháng chiến Nam Bộ. Chắn chắn Nguyễn Sơn là người thu hút được hầu hết các văn nghệ sĩ ở vùng suôi gia nhập vào những tổ chức kháng chiến ở đây.
Cũng phải công nhận là ở Thanh Hoá, từ khi xẩy ra cuộc kháng chiến toàn quốc cho tới khi có Hiệp Định Geneve, đã không bao giờ có một cuộc giao tranh lớn nhỏ nào xẩy ra cả. Quân Đội Pháp có thể mở nhiều cuộc càn quét ở các khu vực khác, nhưng họ không có đủ quân để tiến vào nửa phần ngoài của Chiến Khu IV này. Tình hình ở ba tỉnh Quảng Bình-Quảng Trị-Thừa Thiên (gọi tắt là Phân Khu Bình-Trị-Thiên) thì rất là sôi động nhưng tình hình ở ba tỉnh Thanh Hoá-Nghệ An-Hà Tĩnh (gọi tắt là Phân Khu Thanh-Nghệ-Tĩnh) thì rất là an ninh. Dân chúng ở đây có đầy đủ thóc gạo để ăn. Không những thế, tỉnh Thanh Hoá còn là nguồn tiếp tế lương thực cho các vùng trung du và thượng du ở miền ngoài. So với những Chiến Khu ở Việt Bắc và so ngay cả với Chiến Khu III là miền đồng bằng, tôi thấy đời sống ở Chiến Khu IV này rất là dễ chịu và là nơi lý tưởng để tập trung văn nghệ sĩ. Nhất là tại đây lại có hai người của chính quyền rất chú trọng tới vấn đề văn hoá là Đặng Thái Mai và tướng Nguyễn Sơn.
Trong thời gian vừa mới gia nhập Đoàn Văn Nghệ Quân Đội Liên Khu IV và đang trong thời kỳ tập dượt trước khi lên đường đi công tác xa, hằng đêm chúng tôi thường tới sinh hoạt với tướng Nguyễn Sơn, hoặc để biểu diễn thử cho ông ta coi, hoặc để nghe ông ta nói chuyện về kinh nghiệm làm công tác văn nghệ trước đây trong Hồng Quân Trung Hoa. Nguyễn Sơn có vẻ rất thích loại dân ca mới của tôi. Tôi rất khoái Nguyễn Sơn vì thấy ông ta khác hẳn các ông "cách mạng" mà tôi đã gặp, tính tình cởi mở hơn, vóc dáng quắc thắc hơn, hiểu biết về văn nghệ hơn. Ngoài ra, ông tán gái cũng giỏi lắm. Một thiếu nữ trẻ măng có cái tên là Hoài luôn luôn ở gần gụi ông, lúc đó ông cũng đã quá 40 tuổi rồi. Điều này đã làm cho Ban Thường Vụ ở trên Trung Ương khổ tâm lắm. Dần dà, tôi biết thêm về tiểu sử của ông.
Trong những đêm sinh hoạt giữa văn nghệ sĩ và vị Tư Lệnh của Chiến Khu, về vấn đề văn nghệ, chúng tôi thường được nghe ông nói về Tào Ngu và vở kịch Lôi Vũ và chúng tôi đã học hỏi được ở ông rất nhiều điều để có thể đem áp dụng vào công tác văn nghệ của chúng tôi lúc bấy giờ. Điều này cũng chẳng lấy gì làm lạ vì tướng Nguyễn Sơn đã từng là đoàn trưởng của nhiều đoàn ca kịch trong Hồng Quân Trung Hoa từ khi ông là đồng chí của Mao Trạch Đông.
Để hiểu rõ con người Nguyễn Sơn hơn nữa, xin kể một chuyện vặt về viên tướng Tư Lệnh này: Là người nghiện thuốc lá, lúc nào trong túi cũng có một bao thuốc thơm hảo hạng "3 con 5", một hôm, Nguyễn Sơn đi ra phía Cầu Hàm Rồng và đi qua một trạm gác. Tuy là tướng đó nhưng có lúc nào ông mặc quân phục đâu? Mặt thì xạm nắng, người thì khô đét, tóc thì như rễ tre, lại ưa mặc quần đùi, ai trông cũng tưởng là một anh binh bét, lính tốt đen. Nguyễn Sơn đang đứng ở dưới chân cầu, vừa móc túi lấy thuốc lá ra hút thì một anh dân quân đứng gác ở gần đó đi tới và phê bình:

-- Tại sao đồng chí lại hút thứ thuốc lá quốc cấm này? Tôi phải tịch thu, không đưa thì tôi bắt đồng chí ngay lập tức.

Cận vệ vội chạy lại túm cổ anh dân quân và hỏi:

-- Có biết ai đây không? Tướng Tư Lệnh đó.

Nhưng Nguyễn Sơn đã gạt anh cận vệ ra, nhe răng cười và nói với anh dân quân:

-- Cậu làm như vậy là đúng, xin nộp đồng chí bao thuốc lá.

Đi khỏi chỗ đó một quãng đường, Nguyễn Sơn mặt tỉnh khô, bảo cận vệ đưa cho ông bao thuốc "3 con 5" khác.”
(Hồi kí Phạm Duy, chương 56).
=====

Tướng Nguyễn Sơn trong quân phục Trung Quốc
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn (1-10-1908 - 1-10-2008) Nguyễn Sơn - Vị tướng của tình hữu nghị Việt – Trung
Thứ tư, 01/10/2008, 14:51 (GMT+7)
Tôi có may mắn được chiến đấu dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Sơn thời kháng chiến chống Pháp khi ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến khu thứ Tư (nay là Quân khu 4) và tôi là cán bộ tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 57. Tôi cũng nhiều lần được trò chuyện với ông ở Trung Quốc năm 1950 và 1955 khi tôi sang Trung Quốc học tập và công tác.
1. Ông tên thật là Vũ Nguyên Bác, sinh ngày 1-10-1908 tại phố Yên Ninh, Hà Nội, nguyên quán ở làng Kiêu Kỵ thuộc huyện Gia Lâm. Lên 7 tuổi ông vào học Trường Đỗ Hữu Vỵ, sau đó học Trường Sư phạm nội trú Hà Nội. Chịu ảnh hưởng của gia đình và phong trào yêu nước, năm 1925 ông giác ngộ và được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Sau đó ông bí mật sang Quảng Châu, Trung Quốc.
Sau khi tham gia lớp huấn luyện chính trị đặc biệt do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, ông được cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố do Tôn Trung Sơn sáng lập với sự giúp đỡ của cố vấn Liên Xô.

Tháng 8-1927, Vũ Nguyên Bác gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm đó, cuộc khởi nghĩa Quảng Châu bùng nổ. Cùng với các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam, ông tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu. Cuộc khởi nghĩa thất bại và bị dìm trong biển máu.
Tạm lánh sang Thái Lan, hoạt động trong tổ chức cách mạng của Việt kiều. Giữa năm 1928 Vũ Nguyên Bác trở lại Trung Quốc. Ông qua Hồng Công rồi vào khu căn cứ Đông Giang tham gia chiến tranh du kích, làm chính trị viên đại đội. Từ đó ông lấy tên là Hồng Thủy.
Mùa thu năm 1934, Chủ tịch Mao Trạch Động chủ trương tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh dài hơn 12.000km từ Giang Tây lên Thiểm Bắc. Hành quân trong đội hình Phương diện quân thứ nhất, Hồng Thủy là một trong bốn người nước ngoài và là người Việt Nam duy nhất tham gia cuộc Vạn lý trường chinh gian khổ ấy.
Năm 1937, phát xít Nhật gây chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Đảng Cộng sản chủ trương chấm dứt nội chiến, hợp tác với Quốc dân Đảng để đoàn kết toàn dân chống Nhật. Hồng quân ở Hoa Bắc đổi tên là Bát Lộ quân, ở Hoa Đông lấy tên là Tân Tứ quân. Thời kỳ đầu chiến tranh chống Nhật, Hồng Thủy được Bộ Tổng chỉ huy Bát Lộ quân cử đi xây dựng căn cứ kháng Nhật ở vùng Đông Bắc tỉnh Sơn Tây, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư Khu ủy 4 huyện Ngũ Đại, Phó Bí thư Đảng ủy khu Đông Bắc Sơn Tây; Tổng phụ trách lớp huấn luyện cán bộ ở Vương Gia Trang. Sau đó, ông phụ trách báo “Kháng địch” của quân khu Tấn Ký Sát, rồi làm giáo viên chính trị Trường Quân chính kháng Nhật. Từ năm 1939 đến 1942, ông về Phân hiệu hai Đại học Quân chính kháng Nhật ở Hà Bắc.
2. Tháng 8-1945, khi Hồng Thủy đang học tại Trường Đảng Trung ương ở Diên An thì cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc kết thúc, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam bùng nổ. Được tin Cách mạng Tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời do cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch, ông xin được về ngay tổ quốc. Lúc đó ông chưa biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc tức Lý Thụy – người thầy cách mạng của mình hai mươi năm về trước. Từ Diên An, ông đáp máy bay đi Trùng Khánh rồi tìm đường về Hà Nội. Để giữ bí mật, ông đổi tên là Nguyễn Sơn từ đấy.
Nguyễn Sơn trở về nước khi thực dân Pháp đã gây chiến tranh xâm lược miền Nam, Hồ Chủ tịch và Thường vụ Trung ương Đảng bổ nhiệm ông làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Cùng với các đồng chí lãnh đạo và quân dân miền Nam, ông đã góp phần tích cực ngăn chặn bước tiến của quân xâm lược Pháp thời kỳ đầu kháng chiến. Tháng 5-1946, trên vùng tự do Liên khu 5, ông thành lập và trực tiếp làm hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân Quảng Ngãi để đào tạo cán bộ cho các chiến trường.
Tháng 7-1947, ông được bổ nhiệm làm Khu truởng kiêm Chính ủy chiến khu thứ 4 gồm sáu tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị, Thiên, chức vụ Đảng là Phó Bí thư khu ủy. Mùa xuân năm 1948, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Viêt Nam, ông được phong thiếu tướng.

Cuối năm 1949, ông rời Khu 4 ra Việt Bắc rồi sang Bắc Kinh vào giữa năm 1950 khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vừa ra đời. Sau một thời gian làm việc ở cơ quan Mặt trận thống nhất Trung ương và học tập ở Học viện Quân sự Nam Kinh, năm 1954 ông về Bộ Tổng giám huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, giữ chức Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh, Tổng Biên tập tạp chí huấn luyện chiến đấu. Ngoài tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, ông học thêm tiếng Nga và có khả năng dịch tài liệu tiếng Nga sang tiếng Trung Quốc.
Năm 1955, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc lần đầu tiên tổ chức phong quân hàm và khen thưởng tổng kết, ông được phong hàm thiếu tướng và được tăng thưởng Huân chương Bát nhất, Huân chương Độc lập và Huân chương Giải phóng, đều là hạng nhất. Đây là sự ghi nhận của Đảng, Chính phủ Trung Quốc đối với những đóng góp xuất sắc của ông – người nước ngoài duy nhất đã đi suốt quá trình xây dựng quân đội cách mạng Trung Quốc từ những ngày gian khổ hiểm nguy cho đến ngày thắng lợi.
3. Năm 1956, các bác sĩ Trung Quốc phát hiện ông bị khối u ác tính, đã phẫu thuật nhưng không kết quả. Được Đảng Trung Quốc thông báo, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng ta có ý định đưa ông sang Liên Xô với hy vọng chữa khỏi bệnh cho ông. Tuy nhiên, sau khi xem bệnh án gửi sang, các giáo sư Liên Xô cho biết bệnh ông không có khả năng chữa khỏi. Trung ương Đảng nhất trí để ông và gia đình về Việt Nam.
Cuối tháng 9-1956, tôi được giao nhiệm vụ lên Bằng Tường đón ông. Đến nơi tôi được biết Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã tổ chức một chuyến tàu đặc biệt đưa ông từ Bắc Kinh về Bằng Tường. Tại đây, đại diện Đảng, chính quyền và quân đội Trung Quốc đã lưu luyến tiễn ông qua biên giới. Dạo ấy, sau 9 năm kháng chiến, đường sắt Đồng Đăng – Hà Nội chưa khôi phục xong, chúng tôi dùng ô tô đưa ông và gia đình về Hà Nội. Ông rất cảm động khi thấy có người quen lên đón và dặn tôi, khi vượt qua biên giới, tìm một chỗ thuận tiện cho đoàn xe dừng lại, để ông “tận hưởng phút giây hạnh phúc khi đặt chân lên mảnh đất quê hương”.
Tôi đã thực hiện những điều giản dị mà ông ao ước. Nhưng tiếc là về nước được hơn một tháng, ông đã ra đi trong niềm tiếc thương của nhân dân và quân đội hai nước Việt – Trung, khi vốn kiến thức và kinh nghiệm đang độ chín muồi, khi đất nước và quân đội đang rất cần những vị tướng như ông.
HOÀNG MINH PHƯƠNG

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Thăm thầy Thụy ốm!

Sáng nay đại diện B6 vào làng Vạn Phúc thăm thầy Thụy. Sau khi họp mặt với B6 4 ngày, hôm 25/3 thầy Thụy ngồi xe máy về quê ăn giỗ, gặp lúc trời trở rét, lại mưa nữa nên thầy bị tai biến, liệt nửa người. Thầy được điều trị ở K9 Bạch Mai những ngày đầu, hiện thầy đã ra viện, hàng ngày đến Phù Lỗ (cách nhà 40km) để chữa bệnh. Gặp thầy hay, thuốc tốt, hiện miệng thầy gần hết méo, giọng nói đã gần bình thường, chân phải đã đỡ nhiều, chỉ còn tay vẫn thõng do thầy thuốc chủ trương chữa chân trước, chưa chữa tay. Tuy nhiên thầy gày đi nhiều. Mong thầy chóng bình phục để còn đến dự Hội trường dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập vào tháng 10 tới.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

Tin buồn.

Ban liên lạc B6-K8 NVT vô cùng thương tiếc báo tin: Cụ Võ Thị Thế, thân mẫu bạn Nguyễn Thành Điềm B6-K8 Nguyễn Văn Trỗi đã từ trần lúc 22 giờ 23 phút ngày 09/4/2015, thượng thọ 89 tuổi. Lễ viếng bắt đầu từ 19h30 ngày 10/4/2015 tại 160 Lê Đình Lý, TP Đà Nẵng. Di quan lúc 07h00 ngày 14/4/2015, an táng tại NTQK5. Xin chia buồn cùng bạn Điềm và gia quyến.

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Những vị tướng của trận đánh lớn: Người đề xuất phương án tác chiến “Chiến dịch Hồ Chí Minh”

Trung tướng Cao Văn Khánh (bên trái) và Đại tướng Lê Trọng Tấn tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/nhung-vi-tuong-cua-tran-danh-lon-nguoi-de-xuat-phuong-an-tac-chien-chien-dich-ho-chi-minh-post140774.html | NongNghiep.vn
Trung tướng Cao Văn Khánh (bên trái) và Đại tướng Lê Trọng Tấn tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào... 
Chỉ huy từ Đại đoàn đến Binh đoàn
Cuối tháng 6/1973, Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21. Đây là hội nghị cực kỳ quan trọng, nhằm khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh, khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam bằng chiến tranh cách mạng của quân và dân ta. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng" (Đại tá Phạm Chí Nhân thể hiện - NXB Chính trị Quốc gia, 2000) đã viết: “Tôi tập trung suy nghĩ những vấn đề chiến lược trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Trực tiếp giúp tôi là các đồng chí Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn và Cao Văn Khánh, hai đồng chí từng chỉ huy đánh lớn, hai đồng chí gắn bó lâu năm trong nhiều chiến dịch, hai người bạn chiến đấu trung thực và chân thành”. Ở thời điểm ấy, Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, có thể nói, là người duy nhất trong số các tướng lĩnh quân đội đã từng chỉ huy chiến đấu từ Đại đoàn đến Binh đoàn chủ lực. Người chỉ huy chiến đấu binh chủng hợp thành, người có nhiều kinh nghiệm cũng là ông. Trong kháng chiến chống Pháp, ông Cao Văn Khánh đã có mặt trên khắp các chiến trường: Khu trưởng chiến khu V (1945), Đại đoàn phó đầu tiên Đại đoàn 308 (1949) - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng Tư lệnh. Kháng chiến chống Mỹ ông lại tiếp tục lên đầu chiến tuyến, gắn bó với chiến trường miền Trung và Tây Nguyên với các chiến dịch lớn như Đắc Tô (1966), Khe Sanh (1968), Đường 9 (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1973). Sự từng trải trận mạc, kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu những chiến dịch lớn mà đặc biệt là sự thích ứng nhanh chóng với diễn biến chiến tranh để ông có phương án tác chiến kịp thời hiệu quả. Từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm đầu, nhưng khi thời cơ đến công tác tham mưu chiến lược phải đáp ứng nhanh và có đủ các phương án đánh địch kịp thời giúp Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Đề xuất phương án tác chiến “Chiến dịch Hồ Chí Minh” Cao Văn Khánh là một vị tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông xuất hiện đúng lúc cùng với cuộc chiến tranh cách mạng ba mươi năm giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống hai thế lực đế quốc hùng mạnh nhất của thế kỷ XX là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một cuộc đối đầu lịch sử không cân sức, tựa như châu chấu đá voi, giữa một bên là quân và dân Việt Nam với một bên là những đội quân nhà nghề chinh chiến có lịch sử lâu đời với những vũ khí hiện đại nhất thời bấy giờ. Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh có vai trò rất quan trọng ở Tổng hành dinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Đề xuất phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn
Ông đã chủ trì nghiên cứu đề xuất phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn trong “Chiến dịch Hồ Chí Minh” lịch sử. Đêm 15/3/1975, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý ở Trị - Thiên: Liên đoàn biệt động quân 14 Việt Nam cộng hòa chuyển ra Quảng Trị thay thế Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển phần lớn vào Đà Nẵng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: Quân đội Việt Nam cộng hòa yếu hơn nhiều so với sự đánh giá của ta trước lúc mở cuộc tiến công. Kế hoạch hai năm có thể rút ngắn. Giải phóng miền Nam có thể sớm hơn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đem những suy nghĩ của mình trao đổi với các tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Cao Văn Khánh, Lê Hữu Đức và một số đồng chí khác trong Bộ Tổng tham mưu. Tất cả đều đồng tình. Cuối tháng 4/1975, giờ phút quyết định đã điểm. Chiến trường Nam bộ bùng lên như một cơn lốc. Ở Hà Nội, các cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh thường trực 24/24 giờ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí Tổng tham mưu phó Hoàng Văn Thái và Cao Văn Khánh thường trực ở Sở Chỉ huy.
Từ 18 giờ ngày 29/4/1975, trận tiến công Sài Gòn - Gia Định đã bắt đầu. Lại một đêm nữa, cả Tổng hành dinh cùng thức với chiến trường, vì miền Nam, vì cả nước. Cục Quân báo vừa nắm được tình hình địch mới nhất. Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh điện gấp cho các chiến trường: “Có tin địch đã lệnh cho các tàu hải quân ở Cần Thơ, Đồng Tâm và Phú Quốc tập trung ở một địa điểm, và một số tàu đổ bộ chuẩn bị đi sang đảo Guam, 78 máy bay của ngụy đã chuyển đến Utapao… Theo dõi xem tàu hải quân có chở bộ binh theo không và có kế hoạch đánh cho kịp”. Ngày 30/4/1975, Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang “Nhà Rồng” báo cáo tình hình mới nhất với đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp.
11 giờ 50 phút, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng! 
Tại Sở Chỉ huy, có mặt Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Nguyễn Trọng Yên và Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn Phạm Chí Nhân. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, ăn uống. Có người đã nói, thời đại Hồ Chí Minh đã sản sinh ra một lớp người có những bộ óc thông minh tài giỏi đáp ứng với sự đòi hỏi của lịch sử. Cao Văn Khánh là một trong những người như thế - không nhiều trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau gần 30 năm chỉ huy chiến đấu khắp các chiến trường, năm 1973 ông được điều về Bộ Tổng Tham mưu với chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng. Đại tá Nguyễn Giang Hà, nguyên Trưởng ban tổng kết của Bộ Tổng tham mưu, trong bài “Nhà Rồng và Bộ Tư lệnh 542” nhận định: “Đồng chí Cao Văn Khánh thì văn võ song toàn, dịu hiền, làm việc khoa học, coi trọng các cán bộ có trình độ, y hệt tính cách Đại tướng Võ Nguyên Giáp: thương lính, yêu quý mọi cán bộ, chăm lo rèn luyện cho cấp dưới…”
Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980) sinh tại Huế trong một gia đình quý tộc trí thức của triều Nguyễn. Ông từng sang Pháp học bằng Cử nhân Luật.
Ngoài công tác chỉ huy các đơn vị chiến đấu trực tiếp, Cao Văn Khánh còn đảm nhiệm Cục trưởng Cục Quân huấn, Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân (1960)... Ông được thăng quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)...

http://nongnghiep.vn/nhung-vi-tuong-cua-tran-danh-lon-nguoi-de-xuat-phuong-an-tac-chien-chien-dich-ho-chi-minh-post140774.html

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Ảnh cũ tặng thầy!

Nhân dịp mừng thầy B Trưởng bước sang tuổi 75, tập thể cựu học sinh B6 kính tặng thầy một cuốn album khổ lớn để thầy lưu những tấm ảnh kỷ niệm. Cùng với cuốn album còn có 3 bức ảnh cũ gợi nhớ các trò Trỗi. Mình xin đưa lại để mọi người cùng chiêm ngưỡng
Mời các bạn xem hình đóan bạn!