Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Những vị tướng của trận đánh lớn: Người đề xuất phương án tác chiến “Chiến dịch Hồ Chí Minh”

Trung tướng Cao Văn Khánh (bên trái) và Đại tướng Lê Trọng Tấn tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/nhung-vi-tuong-cua-tran-danh-lon-nguoi-de-xuat-phuong-an-tac-chien-chien-dich-ho-chi-minh-post140774.html | NongNghiep.vn
Trung tướng Cao Văn Khánh (bên trái) và Đại tướng Lê Trọng Tấn tại Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào... 
Chỉ huy từ Đại đoàn đến Binh đoàn
Cuối tháng 6/1973, Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21. Đây là hội nghị cực kỳ quan trọng, nhằm khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh, khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam bằng chiến tranh cách mạng của quân và dân ta. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng" (Đại tá Phạm Chí Nhân thể hiện - NXB Chính trị Quốc gia, 2000) đã viết: “Tôi tập trung suy nghĩ những vấn đề chiến lược trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Trực tiếp giúp tôi là các đồng chí Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn và Cao Văn Khánh, hai đồng chí từng chỉ huy đánh lớn, hai đồng chí gắn bó lâu năm trong nhiều chiến dịch, hai người bạn chiến đấu trung thực và chân thành”. Ở thời điểm ấy, Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, có thể nói, là người duy nhất trong số các tướng lĩnh quân đội đã từng chỉ huy chiến đấu từ Đại đoàn đến Binh đoàn chủ lực. Người chỉ huy chiến đấu binh chủng hợp thành, người có nhiều kinh nghiệm cũng là ông. Trong kháng chiến chống Pháp, ông Cao Văn Khánh đã có mặt trên khắp các chiến trường: Khu trưởng chiến khu V (1945), Đại đoàn phó đầu tiên Đại đoàn 308 (1949) - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng Tư lệnh. Kháng chiến chống Mỹ ông lại tiếp tục lên đầu chiến tuyến, gắn bó với chiến trường miền Trung và Tây Nguyên với các chiến dịch lớn như Đắc Tô (1966), Khe Sanh (1968), Đường 9 (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1973). Sự từng trải trận mạc, kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu những chiến dịch lớn mà đặc biệt là sự thích ứng nhanh chóng với diễn biến chiến tranh để ông có phương án tác chiến kịp thời hiệu quả. Từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm đầu, nhưng khi thời cơ đến công tác tham mưu chiến lược phải đáp ứng nhanh và có đủ các phương án đánh địch kịp thời giúp Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Đề xuất phương án tác chiến “Chiến dịch Hồ Chí Minh” Cao Văn Khánh là một vị tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông xuất hiện đúng lúc cùng với cuộc chiến tranh cách mạng ba mươi năm giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống hai thế lực đế quốc hùng mạnh nhất của thế kỷ XX là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một cuộc đối đầu lịch sử không cân sức, tựa như châu chấu đá voi, giữa một bên là quân và dân Việt Nam với một bên là những đội quân nhà nghề chinh chiến có lịch sử lâu đời với những vũ khí hiện đại nhất thời bấy giờ. Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh có vai trò rất quan trọng ở Tổng hành dinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Đề xuất phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn
Ông đã chủ trì nghiên cứu đề xuất phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn trong “Chiến dịch Hồ Chí Minh” lịch sử. Đêm 15/3/1975, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý ở Trị - Thiên: Liên đoàn biệt động quân 14 Việt Nam cộng hòa chuyển ra Quảng Trị thay thế Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển phần lớn vào Đà Nẵng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: Quân đội Việt Nam cộng hòa yếu hơn nhiều so với sự đánh giá của ta trước lúc mở cuộc tiến công. Kế hoạch hai năm có thể rút ngắn. Giải phóng miền Nam có thể sớm hơn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đem những suy nghĩ của mình trao đổi với các tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Cao Văn Khánh, Lê Hữu Đức và một số đồng chí khác trong Bộ Tổng tham mưu. Tất cả đều đồng tình. Cuối tháng 4/1975, giờ phút quyết định đã điểm. Chiến trường Nam bộ bùng lên như một cơn lốc. Ở Hà Nội, các cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh thường trực 24/24 giờ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí Tổng tham mưu phó Hoàng Văn Thái và Cao Văn Khánh thường trực ở Sở Chỉ huy.
Từ 18 giờ ngày 29/4/1975, trận tiến công Sài Gòn - Gia Định đã bắt đầu. Lại một đêm nữa, cả Tổng hành dinh cùng thức với chiến trường, vì miền Nam, vì cả nước. Cục Quân báo vừa nắm được tình hình địch mới nhất. Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh điện gấp cho các chiến trường: “Có tin địch đã lệnh cho các tàu hải quân ở Cần Thơ, Đồng Tâm và Phú Quốc tập trung ở một địa điểm, và một số tàu đổ bộ chuẩn bị đi sang đảo Guam, 78 máy bay của ngụy đã chuyển đến Utapao… Theo dõi xem tàu hải quân có chở bộ binh theo không và có kế hoạch đánh cho kịp”. Ngày 30/4/1975, Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang “Nhà Rồng” báo cáo tình hình mới nhất với đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp.
11 giờ 50 phút, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng! 
Tại Sở Chỉ huy, có mặt Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Nguyễn Trọng Yên và Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn Phạm Chí Nhân. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, ăn uống. Có người đã nói, thời đại Hồ Chí Minh đã sản sinh ra một lớp người có những bộ óc thông minh tài giỏi đáp ứng với sự đòi hỏi của lịch sử. Cao Văn Khánh là một trong những người như thế - không nhiều trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau gần 30 năm chỉ huy chiến đấu khắp các chiến trường, năm 1973 ông được điều về Bộ Tổng Tham mưu với chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng. Đại tá Nguyễn Giang Hà, nguyên Trưởng ban tổng kết của Bộ Tổng tham mưu, trong bài “Nhà Rồng và Bộ Tư lệnh 542” nhận định: “Đồng chí Cao Văn Khánh thì văn võ song toàn, dịu hiền, làm việc khoa học, coi trọng các cán bộ có trình độ, y hệt tính cách Đại tướng Võ Nguyên Giáp: thương lính, yêu quý mọi cán bộ, chăm lo rèn luyện cho cấp dưới…”
Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980) sinh tại Huế trong một gia đình quý tộc trí thức của triều Nguyễn. Ông từng sang Pháp học bằng Cử nhân Luật.
Ngoài công tác chỉ huy các đơn vị chiến đấu trực tiếp, Cao Văn Khánh còn đảm nhiệm Cục trưởng Cục Quân huấn, Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân (1960)... Ông được thăng quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)...

http://nongnghiep.vn/nhung-vi-tuong-cua-tran-danh-lon-nguoi-de-xuat-phuong-an-tac-chien-chien-dich-ho-chi-minh-post140774.html

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Ảnh cũ tặng thầy!

Nhân dịp mừng thầy B Trưởng bước sang tuổi 75, tập thể cựu học sinh B6 kính tặng thầy một cuốn album khổ lớn để thầy lưu những tấm ảnh kỷ niệm. Cùng với cuốn album còn có 3 bức ảnh cũ gợi nhớ các trò Trỗi. Mình xin đưa lại để mọi người cùng chiêm ngưỡng
Mời các bạn xem hình đóan bạn!

B6K8 đón bạn cũ - mới toanh!

Thứ bảy ngày 21 tháng 3, B6 và đại diện các bạn K8 của các B khác họp mặt ở Vườn Treo để đón bạn Bùi Băng Biên lần đầu. Cũng trong buổi gặp mặt này, các trò K8 chúc mừng thầy Btrưởng Ngô Gia Thụy sang tuổi 75 và đón chào sự có mặt của thầy Phạm Lực cùng vợ mới là người Scotland.
Từ trái sang phải: HÀNG 1 (ngồi): Thái (B6), Hoàng Châu Hương (em gái bạn Hoàng Châu Linh B5), thầy Ngô Gia Thụy (B trưởng B6), thầy Phạm Lực, vợ mới của thầy Lực, Lê Thanh Bình (b6), Trần Văn Bình (b5), Nguyễn Quang Vinh (b3), Nguyễn Thanh Đông (B6); HÀNG 2: Phạm Quân (B6), Phạm Huy Vũ (B6), Ngô Hoàng Hà (B6), Quản Thế Sơn (B1), Lưu Mạnh Hà (B6), Bùi Chuẩn (B5), Nguyễn Xuân Tiến (B6), Nguyễn Quốc Tuấn (B6), Nguyễn Trọng Dương (B6); HÀNG 3: Bùi Thắng (B2), Phạm Việt Thanh (B6), Phạm Quang Trung (B6), Phạm Nguyên Bình (B1), Trần Bình Trọng (B4), Bùi Việt Sơn (B6), Nguyễn Quang Hà (B1), Nguyễn Thanh Bình (B6); HÀNG 4: Nguyễn Huy Cường (B6), Nguyễn Nam Hùng (B6), Nguyễn Tiến Long (B6), Nguyễn Thành Biên (B6), Nguyễn Minh Chính (B6), Bùi Nguyên Khánh (B2), Ngô Anh Vinh (B5), Phan Thanh Hà (B4), Nguyễn Ngọc Đại (B6), Bùi Băng Biên (B6). Ngoài những bạn có mặt trong ảnh trên, tham dự buổi gặp mặt còn có: Phạm Ngọc Thiết (B2), con dâu Phạm Ngọc Thiết, Phan Việt Dũng (B1), Lê Ngọc Hiền (B3).

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

TƯỚNG PHẠM HỒNG SƠN, MỘT ĐỜI CHIẾN TRẬN

TƯỚNG PHẠM HỒNG SƠN, MỘT ĐỜI CHIẾN TRẬN

Tướng Phạm Hồng Sơn sau chiến dịch Biên Giới1950Tướng Phạm Hồng Sơn sau chiến dịch Biên Giới1950
Năm ngoái, Nghệ An tổ chức cuộc gặp gỡ tri ân cán bộ cấp tướng xuất thân từ tỉnh nhà. Tôi không thấy tướng Phạm Hồng Sơn, được biết ông vắng mặt vì lí do sức khoẻ tuổi già. Năm nay, kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội , đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ  Hồ Đức Phớc viết trên Báo Nghệ An bài “Tự hào về tướng lĩnh trên quê hương Bác Hồ”, có đoạn trân trọng nói về Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên Phạm Hồng Sơn, ông lại vẫn “vắng mặt” vì đã qua ngày giỗ đầu của ông rồi! Trong tôi, hình ảnh ông, tên tuổi ông, sẽ mãi mãi có mặt cùng người thân, đồng đội, cùng quê hương đất nước.
Phạm Hồng Sơn sinh năm 1923, là con ông bà Phạm Thành Tính - Nguyễn Thị Ngần, quê làng Do Nha, xã Hưng Nhân, huyện Hưng Nguyên. Cố nội, ông nội và cha ông đều tham gia phong trào Văn Thân chống Pháp(*) nên bị chính quyền thực dân phát vãng ra vùng rừng núi phía Bắc để cắt đứt hoạt động với nghĩa quân Phan Đình Phùng. Thời trẻ, ông học ở trường Gia Long, đậu tú tài Tây toàn phần năm 17 tuổi (1940), tiếp đó là sinh viên trẻ nhất của trường Đại học Luật Hà Nội, rồi xếp bút nghiên hoạt động trong phong trào sinh viên đòi độc lập. Năm 1945, ông được cử học trường Quân chính Kháng Nhật vẻn vẹn 15 ngày, và đó là cái vốn kiến thức quân sự ít ỏi đầu tiên trước khi khoác áo Vệ quốc đoàn chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ trên hầu khắp các chiến trường: Từ Khu V ra Kinh Bắc; lên Biên Giới; xuyên Tây Bắc, Điện Biên Phủ, Thượng Lào; vào Tây Nguyên, Đường 9 - Nam Lào đến cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân 1975. Rồi tiếp đến chiến trường Tây Nam… Và có một “trận” rất đặc biệt giữa đời chiến trận của ông là trận khắc phục  vỡ đê Mai Lâm (sau trận Cầu Lồ vài ba năm) mà ông được Chính phủ giao làm Tổng chỉ huy. Đây là trận chiến chống thiên tai khủng khiếp nhất trong lịch sử đê điều nước ta mà tôi được chứng kiến và tham gia hàng tháng trời trong đoàn quân có 2 sư đoàn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên; hàng ngàn người lặn lội đào đắp trong bùn đất, dựng lại nhà cửa, lau chùi máy móc thiết bị của hàng chục nhà máy, nhà  kho bị ngập trong cát sỏi…
Sau khi thống nhất đất nước với tư cách là Giáo sư khoa học quân sự ông viết cuốn sách “Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” thể hiện trí dũng song toàn của một con người trong quân ngũ không mệt mỏi, chiến đấu ròng rã gần 60 năm trời qua hai cuộc chiến chống hai đế quốc lớn. “Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, có ý nghĩa thực tiễn, có thể giúp ích cho các học viện, các trường trong quân đội, các cán bộ và cơ quan khoa học ngoài quân đội” (Lời giới thiệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp).
Cuộc đời và sự nghiệp của tướng Phạm Hồng Sơn được khái quát mấy nét cô đọng trên đây hoàn toàn có khả năng liên tưởng, mở rộng thành một tác phẩm nhiều chiều về một con người, một khoảng thời gian đa dạng phong phú và lâu dài như đầy những chớp sáng dày đặc nhấp nhánh sắc màu trên sa bàn quân sự. Nhưng ông sống hồn nhiên trong lòng người. Tập hồi ức khiêm nhường “Nửa đời chiến trận” của ông chỉ chưa đầy 80 trang sách nhỏ và dừng lại ở chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội. Đất nước còn bị chia cắt, người lính Cụ Hồ tiếp tục ra trận cho tới mùa xuân lịch sử năm 1975. PGS,TS, Nhà văn Đặng Anh Đào, vợ ông, đã thay ông – nhân vật chính – viết tập “Vầng trăng khuyết”. Và đó là “Nửa đời chiến trận” tiếp theo của cuốn hồi ức và chân dung về ông có tên “Nhớ và Quên”. Nhớ và Quên là một cuốn sách nhỏ rất lớn về nhiều mặt, đầy ắp những sự kiện gốc của một thời lịch sử huy hoàng và đau thương tan nát, đầy ắp những tấm lòng yêu nước, tình người trong máu và nước mắt, hội tụ đầy đủ cội nguồn văn hoá truyền thống qua một con người có những nét riêng.
Năm 1954, sau giải phóng Thủ đô, tôi về học lớp 8 Trường cấp III Hà Nội mà hồi đó người ta gọi là “Trường con em cán bộ”. Tôi được gặp Phạm Hồng Sơn nhiều lần, tuy thời gian mỗi lần gặp ngắn ngủi, chỉ tính bằng giờ. Tuổi trẻ chúng tôi lúc ấy thường trăn trở nhiều về lý tưởng sống, hết sức ngưỡng mộ các sĩ quan và những anh bộ đội Cụ Hồ. Ngoài những cái chất chủ yếu của người lính, Phạm Hồng Sơn trẻ trung, đọc tiểu thuyết và “nói tiếng Pháp như gió”, chơi ten nít, chơi đàn ghita Espanhon, tự lái mô tô, ô tô nhà binh… Tôi và mấy cậu bạn cùng lớp phục lăn! Có lẽ đó là gốc gác dẫn đến khái niệm  “thần tượng” quí giá mà ngày nay người ta có phần sao lãng, chỉ chú ý xây dựng tượng đài, có khi vô hồn trống rỗng. Một lần, tôi cứ luẩn quẩn bên cái xe mô tô Pháp. Xe đổ, xăng tràn ra từng vũng ở nhà xe, tôi hoảng hốt lấy chổi quét loang ra khắp nền nhà cho nó bốc hơi nhanh đi, nhưng vẫn còn mùi nồng nặc. Ông xuống gác, cười, và bảo “Mặc quần áo ấm đi chơi với anh!”. Tôi ngồi sau chiếc xe “bình bịch” cổ lỗ sĩ kêu ầm đường phố, nhưng là của hiếm lúc bấy giờ. Xe lao ra khỏi Ngã Tư Sở và tiến về sân bóng Hà Đông. Thế là lần ấy một thằng bé được ngồi giữa ông và ông Chủ tịch tỉnh trên một lễ đài nhỏ nhưng trang trọng, xem trận đấu giữa hai đội bóng quân đội và địa phương. Tôi thấy ông rất am hiểu phép tắc bóng đá, khi nói “Xử lý cái phép lợi thế là làm cho trọng tài đau đầu nhất!”. Chắc là cái “phép lợi thế” này có liên quan đến bàn cờ binh nghiệp? Hồi đó, ông là Tham mưu trưởng đại đoàn Quân tiên phong 308 nổi tiếng. Đến thời chống Mỹ, tôi về Nghệ An công tác, thỉnh thoảng mới được gặp ông chốc lát từ chiến trường Tây Nguyên ra Hà Nội, khi ông đến thăm gia đình bố mẹ vợ. Chiến tranh làm cho sức khoẻ sút kém và con người già đi. Tôi nghe nói có những trận đánh bộ đội phải cáng ông ra trận địa chỉ huy. Nhưng nét mặt và tâm hồn ông vẫn trẻ trung hồn nhiên như ngày nào, sự hồn nhiên tự tin, trong sáng. Không ít lần ông vui vẻ nói đại loại những câu: “Lính của anh sắp được nhận tên lửa vác vai”, hoặc: Cái cậu gì ở huyện Phục, ông Sáu đang định cấu tạo Trung ương uỷ viên dự khuyết đấy”. v.v… mà những người “vai vế” thường cẩn thận giữ gìn. Gần đây, xem những dòng hồi ức của ông và chân dung về ông, tôi vẫn thấy nhiều những tình tiết hồn nhiên, cởi mở, thân thiết như thế đối với gia đình, bạn bè, đồng đội của một vị tướng đầy cơ mưu trước kẻ thù. Tôi không ngạc nhiên khi một tân binh như ông, mới mặc áo lính là được giao ngay Chỉ huy đại đội Nam tiến đầu tiên, vì ông là thế hệ thứ tư của một gia tộc chống Pháp, chú ruột là liệt sĩ Phạm Hồng Thái; chị ruột là bà Phạm Thị Kim, chuyên gia Hán nôm, vợ nhà cách mạng Khuất Duy Tiến; anh ruột là Luật sư Phạm Thành Vinh thủ lĩnh sinh viên, Chánh Văn phòng bộ Quốc phòng, tác giả cuốn sách “Kinh tế Miền Nam”… Nhưng ông nói chẳng rõ vì sao người ta bố trí chức vụ đó cho mình! Ông không giấu những điều ấu trĩ khi kể chuyện trận đánh đầu tiên ở Quảng Ngãi là một trận… tưởng tượng: cả trung đội hò nhau bắn vào một đồi sim động đậy trước gió vì bị ám ảnh là tụi Nhật Bản thiện chiến!... Trên chiến trường Đường 9 – Nam Lào khốc liệt mà nhiều danh tướng của ta và địch đã viết sách về nó, Phó Tư lệnh B70 Phạm Hồng Sơn ngày 5 – 1 – 1971 gặp Đại tá Phan Hữu Đại Sư trưởng Sư đoàn 571 Bộ đội Trường Sơn để phổ biến tình hình và nhiệm vụ. Đồng chí Phan Hữu Đại kể lại buổi làm việc rất khẩn trương căng thẳng này. Trên tấm bản đồ trải rộng, Phó Tư lệnh đã nêu ra nhiều vấn đề: thông tin kỹ thuật ta nhận được là địch đang gấp rút mở cuộc hành quân đại quy mô, dự báo những mũi tiến công nào của chúng, bằng trực thăng, bằng các đơn vị thiết giáp…, các phương án tác chiến và dự phòng biến động của ta, những không gian thời gian có tính quyết định… Rồi đồng chí nêu số lượng tăng pháo, số lượng cơ sở vật chất bảo đảm cho chiến dịch… Xong việc, thì bom B52 rải thảm ào ào đổ xuống làm rung giật cả hầm chỉ huy, Phó Tư lệnh tranh thủ chuyển sang câu chuyện tâm tình:
“-Anh Đại quê ở Quỳnh Đôi. Hoá ra anh cùng quê với cụ cử Hồ Phi Huyền tác giả cuốn sách “Nhân đạo quyền hành”. Anh có quen cụ cử Hồ Phi Huyền không?
-Có. Cụ là bố vợ nhà văn Đặng Thai Mai. Tôi quen biết cụ vì cụ giúp giảng cho tôi những danh từ khó hiểu trong tác phẩm triết học phương Tây hồi tôi mới tập nghiên cứu, trước cách mạng Tháng 8. Nhưng đồng chí có quan hệ gì với cụ Hồ Phi Huyền?
- Bố vợ tớ là rể của cụ mà.
- Vậy đồng chí là cháu rể làng Quỳnh chúng tôi. Hay quá!”
(Báo Nhân Dân ngày 20 – 2 – 2006).
Đức tính hồn nhiên của ông trong ngày thường không phải không có những lúc hồn nhiên trong day dứt, xúc động. Bởi ông là người chỉ không biết bi quan. Nước mắt đau thương đã rơi quá nhiều qua hàng trăm trận đánh. Nhưng có lẽ nước mắt ông và đồng đội trước những thi hài mất dạng vì bom na pan  ở trận Cầu Lồ - trận cuối cùng chống Pháp sau trận Điện Biên Phủ ba tháng, do ông chỉ huy là xót xa nhất trước thời điểm mở ra hoà bình, nhưng ít được biết tới vì lúc này ánh hào quang chiến thắng Điện Biên Phủ quá chói lọi… Ông không lảng tránh những điều tai ương đau đớn. Đã có lần ông phát biểu trước một cử toạ: “Có lẽ trong đời của một con người, không ai là không tránh khỏi oan ức. Người oan nhiều, người oan ít, nặng, nhẹ… Con người ta dù có sức mạnh trong tay như tiền của, quyền hành, hoặc chẳng có chút quyền lực gì, lại nghèo hèn nữa nhưng cũng không phải không có một lần gây oan cho người khác, làm họ đau khổ dằn vặt. Thiếu thốn về vật chất đã khổ rồi nhưng vẫn có thể vượt qua được, còn đau đớn về tinh thần thì không gì có thể bù đắp nổi và đau đớn mãi mãi…” Một trái tim giữa đời. Ông nói vậy, nhưng ông là chiến binh kỳ cựu đánh giáp lá cà buộc phải luôn luôn chớp nhanh cách thắng mà sống. Người thấy cái giá sự sống của mình sẽ có cách sống của mình.
Thế hệ ông là thế hệ cách mạng thứ hai của đất nước, được sống trong buổi đầu gặp gỡ hân hoan và đẹp đẽ của người trí thức với sự nghiệp cứu nước, được chứng kiến và hưởng lợi thời kỳ mà mối quan hệ giữa trí thức với giới quyền lực gặp gỡ thăng hoa đơm kết qua những con người mà thành tựu khoa học, nghệ thuật lừng lững song hành với sự nghiệp cách mạng lẫy lừng trên cái nền mẫu số chung là yêu nước, - để trở thành những “hạt giống đỏ” quyết chiến và quyết thắng…
Ngày ông mất, tôi mở những sách ông tặng đọc lại. Tác phẩm chủ yếu của ông -  “Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” (NXB Quân đội nhân dân-1997) là một công trình nghiên cứu nghiêm túc những thời lịch sử đã qua và tâm huyết trách nhiệm với những thời khắc đang tới. Vốn là vị tướng dày dạn chiến trường đồng bằng, miền núi, cao nguyên, nhưng ông đặc biệt quan tâm vị trí chiến lược của sông biển trong chiến tranh ở Việt Nam. Diện tích nước ta phần đất chỉ bằng 1/3 phần nước (biển). Biển có hơn 3.000 đảo lớn nhỏ cộng với vùng trời liên quan. Có thể hai tiếng “đất nước” được gọi tắt là “nước” mà tổ tiên ta đã ý thức được từ rất xa xưa. Ông còn viết những điều sau đây rất sớm (khi ngày nay người ta đã xoá bộ Hải sản), và hơn một lần nhắc đi nhắc lại: “Sông biển ven đất liền luôn luôn là trục sống của cư dân. Cần có một hạm đội đủ sức cùng với lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đánh bại các cuộc tập kích đổ bộ của hải quân địch; phối hợp với không quân làm thất bại những mưu đồ đánh chiếm đảo và quần đảo của ta”. Từ đó ông đặc biệt nhấn mạnh lập luận: “Đi đôi với khoa học quân sự cần phát triển đồng thời khoa học kỹ thuật quân sự”. Tình hình giờ đây càng thấy rõ sức mạnh tổng thể  to lớn của quốc phòng không thể khôngcấp thiết thực hiện điều đó.
Một công dân mẫu mực; Một vị tướng văn võ song toàn ra đi từ giảng đường đại học, trưởng thành trong chiến tranh giữ nước; Một đời người hồn nhiên phơi phới… Đó là Phạm Hồng Sơn. Không phải ngẫu nhiên khi ông đưa ý tưởng của Lênin “Hãy bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc” vào phần Kết luận cuốn sách giá trị của mình.
                                                                                   Vinh, ngày 15/12/2014

(*) Phong trào Văn thân: Khởi phát từ 1864 tại các trường thi hương ở miền Bắc nhằm phản đối nhà Nguyễn Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhập 3 tỉnh miền Đông Nam bộ. Phong trào chủ trương “Bình Tây, sát tả”. Phong trào phát triển mạnh ở Nghệ Tĩnh, đỉnh cao là khởi nghĩa Trần Tấn – Đặng Như Mai. Về sau các hoạt động của phong trào này mới theo phong trào Cần vương nhưng vì chủ trương sát tả nên đã bị cô lập, tẩy chay.
Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/tuong-pham-hong-son-mot-doi-chien-tran

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

HỒI ỨC LA HIÊN (6)

SOUND #5 (phục hồi) - ... Làm sao nhà Thắng lại có màn đôi trường Trỗi? - Bố mình là Bùi Đại, nguyên chủ nhiệm khoa lây nhiễm của bệnh viện 108. Năm 1967 bố mình là đoàn trưởng đòan của viện 108 sang Trung Quốc để chống dịch viêm màng não cho trường mình, lúc bên khóa 7 có một người bị chết ấy. - Anh Hòa hay sao ấy nhỉ? - Anh Hòa. Hồi ấy đoàn bố mình sang khoảng mấy tháng. Đến khi bọn mình sang thì đòan ấy về rồi. Mỗi người trong đoàn được phát một bộ như chúng mình: một chăn, một màn. Sau này khi mình về rồi, nhà mình cần cái màn đôi nên ghép hai màn đơn của bố và của mình thành cái màn đôi này, dùng 4 chục năm rồi. Gần đây thì không dùng nữa nên nó ngả màu đi thế này. SOUND #10 (phục hồi) - Hồi đi sang Trung Quốc đợt hai có chị Hằng. Khi đi tàu hỏa qua Bằng Tường để đến Quế Lâm, mình bị một cái bụi than rất to rơi vào mắt. Chị Hằng đã tìm cách lấy ra cho mình đấy. Mình nhớ mãi đoạn đấy. - Đây là bạn Huy Cường, lớp B6 bọn em. Bây giờ Cường muốn nói lời cảm ơn đến chị Hằng đấy. - Em cảm ơn chị Hằng. Chiều hôm qua, lúc ở bên cửa hang bị lấp dở, bọn nó bảo thế này thì có khi chị Hằng không chui qua được (để vào hang) nên sáng nay em nhăm nhe về sớm để đỡ chị Hằng qua, để trả ơn đấy. SOUND #11 (phục hồi) - Bạn Hải ơi, hồi ấy bạn không được ở trong hang à? - Không. - Thế thì bạn ở đâu? - Ở lán. Song là sáng đi lấy nước rửa mặt thì nhìn thấy “cấy”!!!

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

HỒI ỨC LA HIÊN (5)

Mình xin đăng tiếp những file ghi âm trong chuyến đi La Hiên (đã được phục hồi): SOUND #4 (phục hồi) Khi biên chế trong quân đội ông già mình chỉ là trung tá thôi. Năm 64 thì có một người là trung úy ở đơn vị của ông già mình đến đón mình về đi trường Trỗi. Lúc đó bà nội mình ở đấy, bà nội mình ra nói: “Thưa ông, không dám.” Khi ông ấy chào, thì ông trung úy chào: “Thưa cụ, cho cháu đón Hùng về Hà Nội để đi trường Trỗi” thì bà nội mình mới bảo “Thưa ông, không dám.”, mặc dù ông kia chỉ là một người cấp dưới trong đơn vị của bố Hùng, nhưng mà đến bây giờ mình mới hiểu người đàn bà Việt Nam ngày xưa cực kỳ lễ phép. “Thưa ông, không dám. Ông làm cùng đơn vị của em.” Tức là nói ông già của mình là em. Cực kỳ khiêm tốn. Người dân Việt Nam mình bây giờ rất tinh tướng, không có cái chuyện ấy. Bà nội mình ngày xưa là một người mà cho đến bây giờ mình không thấy có một người nào khiêm tốn như thế. Mặc dù con mình đã là cán bộ cấp trên của người khác, người khác đến nói như thế mà cụ đáp “Thưa ông, không dám.” Về sau bà nội mình nói với mình thế này: “Đối với tất cả mọi người con phải trân trọng.” Cái đó bây giờ hiếm lắm, cực kỳ hiếm. Chỗ đất này ngày xưa làm gì có láng xi măng, tòan là sỏi. Mỗi khi mình có lỗi, bà nội mình bắt mình ra nhặt những viên sỏi này xếp vào gốc cây. Lấy một cái rổ đây, từng viên một xếp vào gốc cây. Đó là một cách giáo dục trẻ con cực kỳ quý báu luôn. Mình ở với cụ cho đến năm bọn mình đi trường Trỗi. Sau khi ở trường Trỗi về đến năm ‘70 thì mình và Quốc Bình, B1 (bây giờ ở trong Nam) lên đây.

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Chúc mừng năm mới!

Năm mới, định viết mấy câu chúc Tết nhưng lại phải viết bài xin lỗi đây. Thôi thì chúc mọi người ước gì được toại nguyện nấy! Mọi người bắt đầu ước đi nhé! Điều xin lỗi: Hôm qua (mồng 3 Tết) mình đã chuyển tin không chính xác. Lúc >13h nhận được một tin nhắn: "Chiều nay 16;30 trên Truyền hình Quân Đội có chương trình về thầy Phạm Lực." Thế là tức tốc soạn tin nhắn để chuyển tới mọi người. Đang soạn thì có thêm tin nhắn mới: "16:30 ngày 21/2 mùng 4 Tết.". Thế là lại chỉnh sửa tin nhắn là mùng 4 Tết (không viết ngày 21/2, Tết nhất nên quên cả ngày dương) và gửi đi rồi tiếp tục rửa bát. Qua 16h30, đang làm bếp thì con trai lớn gọi từ trên gác: "Mẹ ơi lên nhanh lên, có thầy Lực trên TV." Mình lên gác thấy đúng có thầy trong chương trình Văn nghệ QĐ thật, bèn gọi cho người đã nhắn tin. Bạn ấy đang đi trên đường và cũng bị ngạc nhiên. Thế là phải nhắn tin xin lỗi rằng chương trình đang được phát rồi. Lẽ ra mình phải gọi cho thầy Lực để xác minh rồi mới nhắn tin. Thành thật xin lỗi vì sự sơ xuất này làm mọi người lỡ xem một buổi chiếu về thầy. Hy vọng nhà đài sẽ phát lại.

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

TIN BUỒN

Anh Chuẩn (Trại Hòe) gọi điện báo tin con anh đã về để chuyển tiền quyên góp cho chị Hiếu. Cháu về trước dự định (là sáng mai) vì chị Hiếu đã trút hơi thở cuối cùng lúc 19h00 chiều hôm nay sau 9 ngày không có gì vào bụng. Năm Ất Mùi ngấp nghé, cái chết của chị cũng hệt như của nhiều người năm Ất Dậu ngày xưa, còn đúng một bộ xương bọc da như thế. Vẫn biêt chị sẽ ra đi trong ngày một ngày hai nhưng nỗi buồn cứ xóay vào lòng. Các bạn Út nếu quyên góp giúp cháu Thắng con chị lo hậu sự cho mẹ, xin mời liên hệ với Ban Liên lạc K8. Khi gọi điện, anh Chuẩn cũng thay mặt gia đình chị Hiếu và quê hương Trại Hòe cảm ơn tấm chân tình của các cựu học sinh trường NVT trong đợt quyên góp đầu tiên.

Gặp bạn nè!

Khỏi cần lời nhé!

GIAO BAN VẠN PHÚC TẤT NIÊN

Mời mọi người xem hình. Thông cảm ngày Tết nhé!
Bùi Chuẩn trao tiền giúp đỡ chị Hiếu (Trại Hòe) nhờ cháu Giang, con trai anh Chuẩn (nguyên trưởng thôn Trại Hòe) chuyển.
Cháu Giang kí nhận tiền.
Danh sách quyên góp giúp chị Hiếu (lần I)
Thư thăm hỏi chị Hiếu.

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015

Những người tử tế và cậu con trai khiêm tốn!

“Năm 1965, khi mẹ tôi đi làm đồng về đến cống 4 cửa thì thấy có một cậu học sinh đang bị đuối nước ở đấy, mẹ tôi chìa cái đòn gánh cho bám nhưng nước xóay không bám được. Mẹ tôi không biết làm thế nào bèn gào tướng dân làng lên. Có một cụ đang làm đồng gần đấy nhảy xuống vớt lên. Mẹ tôi bảo cụ dốc hai chân lên cho nước ra để cứu cậu học sinh ấy. Vừa rồi Ủy viên Bộ chính trị, chủ tịch MT Tổ quốc VN Nguyễn Thiện Nhân có về thăm lại nơi mình được cứu khỏi đuối nước ngày xưa có nói lại chi tiết là năm ấy vì tiếc chiếc dép nên đã nhảy xuống cống 4 cửa để vớt lên nhưng không ngờ dòng nước xoáy làm cho bị đuối nước.” Đây là lời kể của anh Chuẩn, nguyên trưởng thôn Trại Hòe (nay là thôn Ngọc Tân), xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Ngày 30/11/2014 anh Chuẩn có viết bài kể lại câu chuyện này gửi cho anh Quốc đăng trên Báo liếp: Bantroi k5, nhưng anh chỉ viết “có chị đi làm đồng về chìa chiếc đòn gánh ...”. Nhân chuyến đi thăm chị Hiếu bị bạo bệnh, mình được gặp anh Chuẩn và đã ghi âm lại lời kể của anh với sự thật người có công trong việc cứu anh Nhân chính là mẹ anh Chuẩn mà trước đây do khiêm tốn anh chỉ viết chung chung như thế. Cụ tên là Nguyễn Thị Thơ, khi đó 35 tuổi và hiện vẫn còn sống. Tình cờ trong cuộc về tiếp xúc cử tri hồi năm ngóai, anh Nhân đã gặp được ân nhân của mình bên cái cống bốn cửa năm xưa. Còn cụ ông, người đã nhảy xuống vớt anh Nhân là cụ Quì thì đã mất. Ôi những người tử tế!

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

VƯỜN TREO XẺ CHIA GÁNH NẶNG VỚI CON CHỊ HIẾU!

Buổi giao ban Vườn treo Tất niên hôm nay có rất nhiều bàn tay cùng chìa ra đỡ phần nào gánh nặng cho con chị Hiếu - một trong những chị nuôi theo trường mình cho đến tận ngày giải thể. So với các chị Nuôi người gốc thôn Trại Hòe, xã Ngọc Sơn, Hiệp Hòa Bắc Giang - một trong những địa điểm đóng quân của trường - là chị Tính, chị Khải và chị Ninh thì chị Hiếu có hoàn cảnh đặc biệt buồn và khó khăn: Sau khi trường giải thể, chị Hiếu là một người mẹ đơn thân, làm nông nghiệp nuôi con trai. Con chị là cháu Thắng lớn lên cũng làm nông nghiệp. Tuy nhà rất nghèo nhưng chị Hiếu và em Thắng đã cố gắng cho thế hệ thứ ba ăn học: cháu trai đầu đã học xong trường kỹ thuật CN hiện đang tìm việc làm để phụ bố nuôi hai em gái đang học đại học. Nhà nghèo lại nuôi hai con học đại học nên khi chị Hiếu ung thư giai đoạn cuối thì cháu Thắng cũng bó tay, đành nhìn mẹ đuối dần, chẳng có tiền để cho chị ăn bằng ống xông hay truyền đạm. Đến hôm nay, đã 7 ngày chị Hiếu không nuốt được gì, dù chỉ là một thìa sữa nên chỉ còn da bọc xương với khuôn mặt của một người sắp lìa bỏ cõi trần. Quanh giường chị Hiếu chẳng có gì cho bệnh nhân ngoài mấy cái ghế cho khách ngồi. Căn nhà cũng gần như trống không. Chị Hiếu nghèo nhất trong tất cả những thầy cô giáo và các chị nuôi mà mình đã đến thăm: nhà hầu như chẳng có gì. Em Thắng nhỏ, gầy, buồn bã, mệt mỏi và lo lắng. Nỗi lo mẹ không chờ được cái Tết mà đã ra đi và có lẽ có cả nỗi lo lấy gì lo hậu sự cho mẹ. Chị Hiếu có bố là cụ Phương Văn Thảo là cấp dưỡng trường mình. Cụ Thảo đưa chị Hiếu vào làm chị nuôi mà không có biên chế thế nào đó nên sau này dù nhiều trò Trỗi đã rất cố gắng nhưng không làm được chế độ cho chị dù chỉ là một tấm huy chương đã góp phần chống Mỹ. Em trai chị Hiếu ngậm ngùi nói: "có những người chỉ nuôi bèo hoa dâu thôi cũng được chế độ". Vậy mà chị Hiếu đã nuôi bao nhiêu tướng, tá (thời nay) hay chí ít cũng là con các LTCM và các quan, các tướng tá (thời chống Mỹ). Nhưng chẳng làm gì được thủ tục, đành chịu vậy. Mình chỉ biết an ủi gia đình rằng chị đã nuôi học sinh Trỗi thì các học sinh Trỗi sẽ ghi nhớ công ơn của chị. Các anh chị GIAO BAN VƯỜN TREO và mình là những người đầu tiên đã góp tiếp 11 trăm nghìn vào số tiền 5 trăm nghìn của BLL các thầy cô, 5 trăm nghìn của BLL các trò, 2 trăm nghìn của thầy Lương và 2 trăm nghìn của anh Ngô Thế Vinh đã được trao tận tay chị Hiếu sáng hôm nay.

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

May!

Sáng nay trời mưa, lại dậy sớm nên mình định mặc áo mưa (cho khỏi bị lộ) "phục kích" chụp một tấm 3B vì mấy B6 sốt ruột lắm rồi. May mà mới chỉ là "định" vì vừa nhận được cuộc gọi của bạn nói vừa đi công tác tpHCM xong và về thẳng cơ quan. Nghe cái sự "định" của mình, bạn phì cười còn mình thì thấy thật may! Rồi bạn hứa sẽ chọn cái ảnh nào "xấu xấu" gửi cho mình post lên Ut,để đến khi gặp mặt bạn bè sẽ đỡ bỡ ngỡ. Mình nói cứ đưa dần những ảnh từ lúc còn bé tí ấy, càng xưa càng tốt. Bạn nói có một ảnh hồi trường Trỗi. Thế mới tuyệt chứ! Bạn cũng có nhớ tới Trỗi, nhất là B6, ví dụ xem tin về bác NL Bằng thì nhớ tới bạn Liên nhưng lại nhầm với chị Vân K6, nguyên làm ở BT HCM. Sơ qua một chút tin giờ chót: Biên có một con trai (chưa có vợ!). Cháu hiện đang ở Canbera còn Biên thì vừa xong một nhiệm kỳ từ 2009 ở SQ VN tại Canbera.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

LỜI CẢM ƠN!

Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị và các bạn Nguyễn Văn Trỗi đã đến phúng viếng và tiễn đưa người thân của chúng tôi là cụ Vũ Thị Phúc về nơi an nghỉ cuối cùng hoặc gửi lời chia buồn. Trong tang gia có nhiều điều còn sơ suất, gia đình kính mong được lượng thứ. Thay mặt gia đình: thứ nữ Nguyễn Thanh Bình K6 C11 xin trân trọng cảm ơn.

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

Kết luận họp BLL Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi

Kết luận họp BLL Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi Chiều ngày 04/02/2015, tại Hà Nội, BLL Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi đã tổ chức họp. Thành phần tham dự gồm: Lê Kinh Tuyến K1, Lương Sơn K2, Lữ Thái K3, Cát Thịnh K4, Ngô Thế Vinh K5, Nguyễn Thắng K6, Hoàng Mạnh Thắng K7, Bùi Chuẩn, Nguyễn Thị Thái K8. Trưởng BLL Trường Bùi Vinh chủ trì cuộc họp gồm các nội dung sau: 1. Kiểm điểm việc thực hiện các công việc từ cuộc họp lần trước. 2. Những nội dung công việc chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường (1965 - 2015) 3. Báo cáo tài chính. Các nội dung trên đã được thảo luận và thống nhất kết luận như sau: Nội dung thứ nhất: Kiểm điểm thực hiện các công việc từ cuộc họp trước 1. BLL Trường tổ chức đoàn đại biểu đi dự kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường TSQ Việt Bắc, Quân khu 1, (23/10/1983 - 23/10/2013) 2. Họp BLL Trường mở rộng, gồm đại diện các Thầy Cô, BLL các Khóa và Ban biên tập XB sách "SRTKL" tập 4, họp bàn thống nhất kế hoạch XB sách. 3. BLL Trường cùng BLL các Thầy Cô tổ chức gặp mặt, giao lưu Thầy Trò nhân dịp kỷ niệm ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11 hàng năm - Ngày 17/11/2013 gặp mặt, tham quan trang trại Thầy Trần Nguyệt tại Ba Vì. - Ngày 14/11/2015 gặp mặt, tham quan Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên. 4. BLL Trường tổ chức đi Hải Phòng gặp mặt giao lưu, thăm hỏi với các Thầy Cô, CBCNV Trường Trỗi ở Hải Phòng, nhân ngày Thành Lập QĐND VN 22/12/2013. 5. BLL Trường tổ chức cùng các Thầy Cô, học sinh các Khóa về dự Lễ Hội thôn Trại Hòe, Hiệp Hòa, Bắc Giang đầu Xuân 2014. Đoàn cũng đã đến thăm Trường KT xe của QCPKKQ tại Trại Cờ, chuẩn bị cho kế hoạch trồng cây lưu niệm tại đây. 6. Tổ chức đoàn công tác của Trường lên làm việc với huyện Đại Từ và xã Mỹ yên, để chuẩn bị cho việc trồng cây lưu niệm tại xã Mỹ Yên. 7. BLL Trường, đại diện Thầy Cô và các Khoá viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội và tham gia chuyến đi Vũng Chùa thắp hương, viếng Mộ Đại tướng nhân dịp Giỗ 49 ngày Đại Tướng, do Khóa 4 tổ chức. 8. BLL Trường cùng các Thầy Cô, đại diện các Khóa tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm ngày AHLS Nguyễn Văn Trỗi hy sinh tại Đài tưởng niệm Anh Nguyễn Văn Trỗi tại Công viên Thống Nhất ở Hà Nội. Trong dịp này, BLL Trường và BLL các Khóa ở TP HCM và ở Miền Trung đã tổ chức thắp hương, tưởng niệm trọng thể 50 năm ngày AHLS Nguyễn Văn Trỗi hy sinh. 9. BLL Trường và BLL các Khóa đã tổ chức tốt việc thăm hỏi các phụ huynh, các bạn Trỗi ốm đau, bệnh nặng. Tổ chức chu đáo việc phúng viếng, tiễn đưa các phụ huynh và các bạn Trỗi qua đời. 10. Kỷ niệm ngày TBLS 27/7, BLL Trường và BLL các Khóa đã tổ chức đến thăm hỏi gia đình, thắp hương các Liệt Sỹ, thăm hỏi, gặp mặt các Thương binh... 11. Tổ chức tham dự các Lễ khai mạc triển lãm tranh của Thầy Phạm Lực trong tháng 5/2014 và tháng 1/2015. 12. Tổ chức các buổi tiếp đón thân mật các cán bộ Trường ĐHSP Quảng Tây, chị Lư Mỹ Niệm và Trần Hiểu Khiết sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Nội dung thứ hai: Những công việc chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm thành lập Trường (1965 - 2015) 1. Trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ, Hiệp Hoà, Bắc Giang. - Trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Trường KT xe QCPKKQ, BLL Trường tổ chức dự Lễ Trồng cây Lưu niệm tại Trại Cờ (Trong khuôn viên Trường KT xe QCPKKQ), đồng thời với việc tổ chức tham dự Lễ hội thôn Trại Hoè dịp đầu Xuân năm 2015 vào ngày 04/03/2015 (Tức ngày 14 tháng Giêng năm Ất Mùi). - BLL Trường sẽ có thông báo, mời các Thầy Cô và đại diện các Khóa tham dự. 2. Trồng cây lưu niệm tại Mỹ Yên, Đại Từ, Thái Nguyên - Về loại cây trồng: Giao anh Lữ Thái K3 và Nguyễn Thị Thái K8, khảo sát, liên hệ xin cây trồng lưu niệm. - Bia lưu niệm bằng đá. - Thời gian thực hiện: Khoảng đầu tháng 4/2015. - BLL Trường sẽ có thông báo mời các Thầy Cô và đại diện các Khóa tham dự. 3. Các ấn phẩm, lưu niệm cho Thầy Cô, khách mời và học sinh bao gồm: Sách tập 4 "SRTKL", đĩa CD về Trường Trỗi, huy hiệu anh Trỗi và đĩa lưu niệm. Ban biên tập phụ trách việc xuất bản sách. Thầy Chi Phan tiếp tục liện hệ với truyền hình QĐ làm phim về Trường Trỗi. Anh Kiến Quốc làm thêm huy hiệu anh Trỗi và anh Cát Thịnh nhận trách nhiệm nghiên cứu làm đĩa (Bằng gốm) lưu niệm. BLL các Khóa đăng ký số lượng về sách, đĩa CD, huy hiệu và đĩa lưu niệm để có kế hoạch chuẩn bị sản xuất và dự trù kinh phí đóng góp. 4. Về xuất bản sách "SRTKL" tập 4 - Đến nay BBT đã sưu tầm và nhận được khoảng 250 bài viết của các Thầy và các bạn. BBT sẽ xác định giá thành, số lượng xuất bản sách và sẽ cùng BLL Trường liên hệ với các nhà tài trợ. - Đề nghị BBT bổ sung thêm nội dung hội họa, tranh của Thầy Phạm Lực. - BLL các Thầy Cô, BLL các Khóa tiếp tục vận động viết bài, đặc biệt là khối các Thầy Cô, Khóa 1, Khóa 2 và các bạn Trỗi ở nước ngoài hiện còn ít bài gửi về BBT. - Hạn cuối nộp bài: Đến 30/04/2015 và sẽ in ấn, phát hành sách trước ngày 15/09/2015. 5. Chuẩn bị tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Trường. - Sẽ thành lập các Tiểu Ban gồm đẩy đủ thành phần các Khoá để chuẩn bị, triển khai chi tiết cho buổi Lễ kỷ niệm thành lập Trường. - Tổ chức Lễ kỷ niệm cả ở 3 miền: Bắc, Trung, Nam, nhưng trọng tâm ở Hà Nội và TP HCM. - Thời gian tổ chức Lễ tại Hà Nội dự kiến trong khoảng từ ngày 11/10/2015 đến ngày 15/10/2015. Ngày chính thức sẽ được thông báo sau. - Thời gian tổ chức tại T.Phố HCM sẽ diễn ra trước Lễ kỷ niệm tại Hà Nội khoảng một tuần. - Địa điểm tổ chức ở Hà Nội tại Cung Văn Hóa Hữu Nghị Việt Xô: Phần Lễ được tổ chức tại hội trường lớn, còn phần giao lưu gặp mặt, tiệc liên hoan và văn nghệ được tổ chức chung tất cả các Khoá cùng các đại biểu và Thầy Cô tại một Salon trong Cung Văn Hóa (Phía sau sảnh chính của Cung). - Địa điểm và thời gian tổ chức Lễ tại TPHCM do BLL phía Nam xác định và sẽ thông báo cụ thể sau. - Về tài chính: Các Khóa đóng góp. 6. Tiếp theo: Sẽ thành lập các Tiểu Ban gồm đẩy đủ thành phần các Khoá tham gia để chuẩn bị. Dự kiến tháng 4/2015, BLL Trường cùng đại diện BLL các Khoá sẽ họp để triển khai chi tiết mọi công việc chuẩn bị cho buổi Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Trường. Rất mong các Khoá nhiệt tình hưởng ứng và tham gia tích cực để cùng nhau tổ chức thành công mọi hoạt động của Thầy Trò, Bạn Trỗi nhân 50 năm thành lập Trường. Nội dung thứ Ba: Báo cáo tài chính thời gian từ cuộc họp BLL kỳ trước tới nay - Tồn đầu kỳ: 72.030.000 đ/ Tồn cuối kỳ: 71.001.000 đ - Thu/chi trong kỳ: Đã có báo cáo chi tiết gửi các uỷ viên BLL Trường và BLL các Khoá. Trưởng BLL Trường: Bùi Vinh. Được đăng bởi NgoTheVinh vào lúc 23:36

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Tin cực kỳ vui!

B6 đang lan truyền tin vui cực: Phạm Huy Vũ đã tìm thấy Bùi Băng Biên. Hóa ra cơ quan bạn thì rất gần nhà mình, còn mình trên đường đến trường thường qua phố nhà bạn, cách đó cũng chỉ vài trăm mét. Thế mà cứ lần mò tìm bạn ở tận Thanh Hóa hay Quảng Bình thông qua Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh. Đến Phòng tiếp dân của Tổng cục CT để tìm quê quán của bố Biên để có thể qua họ hàng Biên mà tìm ra bạn nhưng thông tin về bác ấy ít quá nên họ không kết nối được. Hôm Việt Liên vào Quảng Bình viếng mộ bác Giáp cũng đã định đăng tin tìm bạn trên truyền hình trong ấy nhưng thời gian không cho phép. Hóa ra bạn ở ngay HN. 45 năm rồi đấy!

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Ảnh cũ

Thái gửi cho thày Lực cái ảnh này.


Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

HỒI ỨC LA HIÊN (4)

SOUND #21, 22 - Hồi lớp ba mình học ở đây này. Lớp ba học ở đầu con voi này (chú thích: có một dãy núi hình con voi phía bên kia con đường trước nhà Hùng). Thế còn lớp hai trước đó thì mình học ở gần hang Quân Khu. Thành thử lúc mình đi ra khỏi cái hang đó, nhìn quang cảnh mình biết ngay đấy là quê mình. Đi được khoảng 1-2 cây nữa đến đây thì mình thấy ông nội mình đứng ở đây, mình mới vẫy gọi ông, xe thì cứ chạy. Về sau ông nội luôn luôn bảo “Hôm ấy thằng Hùng nó đi Trung Quốc và nó vẫy tao”. Hồi mà máy bay Mỹ nó thả bom thì mình chui vào cái hang bên này. Bên này có một cái hang. Cái hang này tuy thế nhá, trên đỉnh có một cái mốc đề 293. Tức là năm 1895 người Pháp đã lên đây đo cái mốc này. - Tức là độ cao trên mực nước biển? - Đúng độ cao trên mực nước biển mà người Pháp đã đánh giá. Mình rất thuộc cái khu này, quê của mình. - Hùng ở đây từ khi mới sinh ra? - Không. Mình sinh ra ở Hà Nội. Năm ’60 mình lên đây. Bởi vì ông già mình hai vợ. Bà mẹ mình ở đây là bà mẹ cả. Mình con bà mẹ hai. Nhưng bà mẹ cả không có con trai nên ba anh em mình lên đây ở. Ông anh cả học K5,ông Lộc. Ông anh hai đi đánh nhau ở trong miền Nam. Đến mình thì tiếp tục đi trường Trỗi. Cường là thứ tư. Băng Ngát Hùng Cường. Còn ba người nữa là Nam Tâm Đức, thì ông thứ năm chết bệnh, ông nằm ngòai kia kìa. Cho nên mỗi khi về gần đến đây thì trong lòng mình đã có một tình cảm rất đặc biệt vì tuổi nhỏ mình gắn bó ở đây. Các cụ và bố mẹ mình nằm bên cạnh nhà. Mộ bố mình đây này. Đây là ông nội. Đây là bà nội. Đây là bố mình. Bố mình nằm ở đây. Bố mình là trưởng phòng kỹ thuật đầu tiên của nhà máy xi măng Hải Phòng. Năm ’39 cụ đã làm trưởng phòng kỹ thuật ở đấy rồi. Năm 39, chưa Cách mạng ý! Sau đó cụ về Thái Nguyên làm giám đốc Nhà máy Sang Tiên là mỏ than, sau là mỏ sắt Trại Cau. Đến năm 47 cụ mới theo Cách mạng, sau cách mạng. Cụ không phải Tiền khởi nghĩa mà. Cụ sinh năm 20. Sau đó cụ đi theo Cách mạng thì đến ’63 cụ vẫn là công nhân. Hồi đó gọi là công nhân quân giới. Chiến tranh mở rộng thì cụ mình mới vào bộ đội nên mình mới thành dân trường Trỗi. Bàn thờ ông già mình ở trong miếu thờ tổ tiên này. Còn thằng Vũ Trung thì ở trên kia, cách đây 12 cây.

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Mời xem :"Bí ẩn hang đá lịch sử ở Võ Nhai!"

Tiêu đề trên là của một chương trình TV sẽ được phát trên VTV1 vào lúc 17h10 tối nay, CN ngày 25 tháng 1 năm 2015. Võ Nhai là nơi có hang Quân khu mà K8 chúng ta tập kết trước khi sang TQ. Bây giờ nghe địa danh này là đã thấy thân quen rồi. Không biết "hang đá lịch sử" sẽ được nói đến là hang nào? Có thể là hang Chu Văn Tấn chăng? Mời các bạn K8 cùng theo dõi chương trình nhé. Biết đâu sẽ có cả hang Quân khu!