Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010

Ngày của Mẹ.

Nhân ngày của mẹ, tôi xin gởi một bài cảm nhận hay nói về người mẹ. Bài này tôi nhận được của một người bạn.

Có thể nói nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân được người Việt biết và thương yêu hơn bất cứ bài hát nào. Tác phẩm Lòng Mẹ năm nay vừa tròn 50 năm ngày ra đời nhưng sức thu hút của nó vẫn như những ngày đầu ra mắt.
Cứ mỗi lần nghe nhạc phẩm này do bất cứ ai hát lên thì người Việt dù ở chân trời góc bể nào cũng dấy lên một niềm xao xuyến khó tả. Bài hát như thay thế người mẹ ầu ơ con trong đêm hè oi bức.
Trong tận cùng của cảm xúc, người nghe thấy được hình bóng của mẹ mình và hình như những lời hát thăng hoa trở thành chính tiếng mẹ hiền ủi an bên cạnh.
Những sáng tác về tình mẫu tử trong kho tàng văn chương nghệ thuật Việt Nam có lẽ bắt nguồn từ những bài hát ru của người mẹ cả ba miền Nam Trung Bắc. Những đứa trẻ được nuôi dưỡng từ tiếng ầu ơ dịu ngọt này đã thai nghén những bài thơ viết về mẹ sau khi trưởng thành và nhanh chóng được người đời chia sẻ.
Bắt đầu biết thương nhớ mẹ từ sớm, từ khi mới chập chững những bước đầu tiên thế nhưng để trọn vẹn cảm nhận được tình mẹ thì phải đợi đến khi khôn lớn.
Người sinh viên nghèo xa nhà đi học ở thành phố bỗng một hôm thấy nhớ mẹ đến nao lòng. Anh như con trẻ, cảm thấy mẹ mình là một nguồn sức mạnh chở che mà anh không thể tìm nơi đâu khác. Lúc này là lúc mà người ta tự hỏi lòng:
Mẹ ơi có nhớ con không?
Lâu nay con trọ học xa nhà
Sống tự lập thiếu thốn nhiều mẹ ạ!
Nhưng một thứ con thiếu nhiều hơn cả
Là vòng tay mẹ âu yếm sớm chiều.
Thiếu một chút muối, mì chính, hạt tiêu
Con có thể chạy vay phòng khác
Nhưng mẹ ơi! Tình mặn nồng ấm áp
Của mẹ hiền nào con biết vay ai??!!
Từ khi nuôi con khôn lớn cho đến khi gả chồng không biết bao nhiêu là cực nhọc. Con về nhà khác cũng mang theo nước mắt mẹ hiền mặc dù ngoài mặt bà vẫn gượng cười cho trọn ngày vui của con. Nhà thơ Nguyễn Bính vẽ lại cảnh tượng bà mẹ đưa con về nhà chồng:
Đưa con ra đến cửa buồng thôi
Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi!
Con ạ! đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.
Nhà thơ Xuân Quỳnh viết về người mẹ của chồng mình mà khi đọc lên sức lôi cuốn của những câu thơ của bà khiến người ta không thể không tự hỏi: phải chăng Xuân Quỳnh đang nhắc cho chúng ta về một người mẹ hiền mà đã quá lâu chúng ta quên bẵng?
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
Hình ảnh nghèo khó của làng quê Việt Nam với những mái tranh nghèo và những gia đình đôi khi neo đơn đến tội nghiệp đã đi vào văn chương Việt Nam với khả năng gây xao động lòng người. Trong những mái tranh nghèo ấy tình mẹ lại càng tỏa sáng biết bao nhiêu với những thân cò lặn lội.
Người con ao ước mua cho mẹ mình những miếng trầu thơm cay và cứ mỗi khi đi ngang hàng trầu thì niềm ao ước ấy lại càng mãnh liệt. Đến khi có thể mua miếng trầu cho mẹ thì bà đâu còn nữa. Người con gái cũng là nhà thơ Nguyễn Thị Mai kể lại trong nước mắt.
Mẹ ơi?
Thơm cay một miếng trầu xưa
Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo
Bây giờ đã bớt gieo neo
Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không?
Từ ngày đưa mẹ ra đồng
Qua hàng trầu vỏ con không dám vào
Có một điểm chung của những bà mẹ Việt Nam là sự khó nhọc nuôi con cùng những hy sinh vô bờ đã khiến bà trở thành biểu tượng của điều thiêng liêng mà chúng ta ai cũng có một.
Thương nhiều lắm dáng mẹ lom khom
Cúi trên ruộng đồng chiều đông buốt giá,
Nặng gánh rau chợ tàn chiều muộn,
Chắt chiu tiền nhàu nát gửi con xa.
Tim thổn thức, nước mắt cứ trào ra
Khi cầm trên tay tờ bạc nhàu cũ nát
và hình ảnh người mẹ của nhà thơ Thanh Vân cho thấy sự vất vả của bà trên cánh đồng như thế nào:
Mẹ tôi bước xuống đồng sâu
Ngọn cỏ ngóc đầu sắc tựa mũi chông
Mẹ tôi ngã quỵ xuống đồng
Cây lúa đòng đòng đỡ mẹ đứng lên
Nhà thơ Vương Trọng khi đến tuổi 70 khi nằm chiêm bao thấy lại mẹ mình với những câu thơ chạnh lòng:
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt đường đê sụt lở,
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn,
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa.
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về.
Hình ảnh của mẹ hiền ăn sâu vào tiềm thức của người con xa quê như một vết thương không bao giờ lành. Thao thức nhớ mẹ là tình cảnh chung và nhà thơ Hoàng Phố, sống cách Việt Nam nửa vòng trái đất mượn bạn mình đến nhà để thăm bà trong khi heo hút:
Mày có đi làm ghé chơi thăm má
mua một tô mì cho má giùm tao
nhớ thêm bột nêm vào trong hoành thánh
tánh má từ xưa vẫn thích ngọt ngào
nếu mà hỏi mày làm ăn có khá
cũng ráng mà cười nói được nghe chưa
tính má hay buồn nghe ai thất bại
bốn chục năm rồi má vẫn như xưa
Khi mày ra về cũng nên hẹn lại
sẽ đến thăm khi rảnh rỗi việc nhà
má như trẻ thơ thích ngồi nói mãi
những chuyện ngày xưa hồi còn có ba
Ừ mà tao quên mày đốt cho ba
một nén nhang thơm cho má mát lòng
bởi tao đi rồi là hai hình bóng
nay đã mất tăm vừa con vừa chồng...
Nhà thơ Trần Trung Đạo hạnh phúc hơn khi còn nghe ra giọng nói yêu dấu của mẹ mình:
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
và rồi nhà thơ thở dài với những cách trở mà ông không hy vọng gì san lấp được. Ông chỉ còn niềm mơ ước duy nhất nhưng chừng như niềm mơ ước này cũng chỉ là thiên thu mà thôi...
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Những chiếc bông hồng tượng trưng cho những người còn mẹ là một phong tục đẹp của người Nhật và đi sâu vào lòng chúng ta từ nhiều năm qua. Khi cánh hoa hồng biến thành màu trắng thì nỗi bất hạnh cũng ập xuống cuộc đời. Nhà thơ Trần Kiêu Bạc trở về nhà thẩn thờ sau khi chôn cất mẹ:
Khi nắm đất sau cùng lắp kín mộ sâu
Con trở về nhà một mình trống vắng
Trên ngực con nở đóa hoa hồng trắng
Quỳ trước bàn thờ cam phận mồ côi
Với nhà thơ Thu Nguyệt thì niềm đau có khác nhưng hoa cà na từ đây dưới mắt nhà thơ đã chớm mang một màu tang chế:
Ngày mẹ mất bông cà na rụng trắng
Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời
Trong nắm đất con lấp từ biệt mẹ
Có rất nhiều những cánh hoa rơi.
Hoa cũng như đời mẹ, mẹ ơi!
Nở lặng lẽ và rơi lặng lẽ
Cô đơn nào hơn những người mẹ trẻ
Con chưa đủ lớn khôn để chia sẻ vui buồn.
Giọng ru buồn len lén hoàng hôn
Ba mươi năm sau đời con mới hiểu
Nỗi cô đơn mẹ âm thầm gánh chịu
Nhiều như bông cỏ dại quê mình.
Nhà thơ Vương Trọng cho chúng ta những khúc hát đẫm nước mắt như trong giấc mơ mà nhà thơ trải qua:
Con lang thang vất vưởng giữa đời thường,
Đâu cũng sống không đâu thành quê được.
Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp,
Con ít về từ ngày mẹ ra đi.
Đêm tha hương con tìm lại những gì
Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa.
Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ
Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.
Người mẹ trong tâm thức Việt Nam vẫn luôn sáng lên niềm hy vọng tuyệt đối. Là chỗ nương thân, là bóng mát, là đại dương, hay là gì chăng nữa vẫn không nói hết được tình yêu của bà đối với con thơ. Ngày "Mother's Day", nghĩ về mẹ một chút cũng là diễm phúc vì con biết con đã và đang từng có mẹ...
Lòng Mẹ
Sáng tác: Y Vân
Trình bày: Thu Hiền

VỢ CHỒNG, CÁC CON và GIA ĐÌNH

Phạm Quốc Ái học sinh K8 trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi, thường xuyên đọc Út Trỗi và các trang Bạn Trỗi khác, nhưng ít khi thấy xuất hiện. Ái vừa gửi bài đăng lên ÚT TRỖI tặng các bạn câu chuyện dưới đây.

Xin tặng cho vợ tôi, các con của tôi và cho các bạn.

Chuyện mà tôi kể cho các bạn nghe dưới đây là một câu chuyện hoàn toàn đúng sự thật ,TỨC LÀ MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT. Không phải là chuyện tưởng tượng, hay phịa ra đâu nhé. Có điều tôi phải kể cho các bạn dưới mức sự thật. Bởi vì nếu kể đúng sự thật 100% thì KHIẾP lắm, KINH KHỦNG lắm. Bạn sẽ đọc hết từ đầu đến những chữ cuối cùng và có thể bạn sẽ nói ông này bốc phét “làm gì có chuyện như thế” hay “ôi dà,chuyện thật thế sao?!” hoặc “tại sao lại như thế được”. Tôi đã nói là tôi chỉ dám kể dưới mức sự thật 100% thì bạn thấy đấy đã dưới sự thật thì chuyện đó là CHUYỆN CÓ THẬT rồi. Trên 100% sự thật thì mới là...bốc phét, là phịa ra đúng không bạn ?....XEM TIẾP

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010

Tin buồn

Thầy Trần Quý Đạm của trường ta vừa mất do tuổi cao sức yếu.
Tang lễ tổ chức tại tư gia: 340 Lạc Long Quân, q. Tây Hồ, HN.
Thời gian: từ 8.30 sáng 7/5 đến 7.30 sáng 8/5/2010.
Thông báo để BLL các khóa tổ chức anh em đến viếng.
Trân trọng!

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010

Quán cà-phê NGUYÊN của thầy Trọng

Mời các bạn tới thưởng thức cà phê và đồ uống tại nhà thầy Trọng!

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2010

Phim tài liệu: Đại thắng mùa xuân

Lục lọi trên trang You Tube thấy bộ phim tài liệu này. Đưa về đây để các bác tiện theo dõi.
Đại thắng mùa xuân phần 1

Đại thắng mùa xuân phần 2
Đại thắng mùa xuân phần 3

Bạn chúng ta viết về Võ Đại tướng

Bạn Nguyễn Mạnh Hà (k7), Phó viện trưởng Viện Lịch sử QS, có bài viết nhiều kì trên Thanh Niên Online về Đại tướng của chúng ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Xin mời cùng đọc!!!

Tư liệu, nhớ lại và suy ngẫm

***

Tội ác của người Mỹ


Thanh niên miền Bắc hăng hái tòng quân


Tiến về Sài gòn

Rút chạy

Trung tá cs nguỵ N.v Long tự sát.

(Nguồn internet)

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

Thăm bạn miền Tây.

Ngày lễ 30/4 hàng năm theo thông lệ tôi sẽ ở nhà không đi đâu, nhưng năm nay có việc nhà tại Cần thơ, tiện cầu Cần thơ mới khánh thành nên đi luôn một thể.
Theo tính toán chủ quan, nếu đi đường cao tốc Trung lương thì mất khoảng 30 phút. Qua Bắc Cần thơ bây giờ xong cầu rồi không phải chờ lâu thì tổng cộng chỉ 3 tiếng đi trên đường là cùng. Nên tôi tính cứ tà tà 9h00 lên đường đến Cần thơ sẽ là khoảng 11h. Đến gần 8h cậu lái xe đã đến nhà tôi tự lúc nào? Hai chú cháu lên xe đi luôn. Đi trên đường Nguyễn văn Linh yên ổn thấy bình thường, chắc mẩm tính toán thế mà hợp lí. Ra quốc lộ 1A bỗng thấy kinh hoàng, người đâu cứ nườm nượp, ùn ùn đổ về phía miền Tây chật cứng? Luồn lách mãi cũng lên được đường cao tốc. Nhưng chỉ sướng được nửa tiếng, qua khỏi đường cao tốc là lại tiếp tục chật cứng xe và người. Mọi tính toán phải thay đổi lại. Dự định đến Cần thơ sớm chưa làm gì sẽ mò lên Long xuyên chơi với ông bạn Phùng Sơn và Vũ "cháy", ăn cơm trưa cùng tụi nó, nay báo hoãn đến chiều. Qua cầu Cần thơ thấy đẹp, hoành tráng tuy nhiều hạng mục đang còn dở dang chưa hoàn thiện. Người dân ngồi đầy trên cầu ngắm sông nước, quang cảnh thành phố mặc cho công an tuýt còi, gọi loa yêu cầu không tụ tập trên cầu. Nghe kể lại đêm 30/4 phải dùng lại phà để chở xe qua sông vì người đông quá, xe chỉ đi được một chiều? Đến Cần thơ đã hơn 12 giờ. Tranh thủ nhận phòng (Có đặt trước cả tháng), tắm rửa rồi đi Long xuyên ngay. Ghé Bình thủy ăn tô hủ tiếu cho chắc bụng, thẳng tiến Long Xuyên. Đến Long Xuyên hơn 16h, ghé thăm người nhà tí rồi gọi ông bạn Phùng Sơn. Hắn nghe chừng sốt ruột lắm rồi? Món ăn tôi đặt hắn là cá lóc đồng nướng trui, cuốn bánh tráng, chấm mắm nêm (ai bẩu nó kể trên blog làm chi khiến tôi phát thèm). Mặc dù mới xơi 1 tô hủ tiếu xong bụng hãy còn chưa đói nhưng vẫn ăn hết 1 con cá. Cậu cuốn cá, rau với bánh tráng cho tôi liên tục. Tôi nói với nó: "Cuốn tới khi nào tao bảo dừng mới được thôi". Ba thằng vừa ăn (chắc chỉ có tôi ăn?) vừa kể chuyện hồi xưa. Mừng vì các bạn có công việc ổn định. Vũ "cháy" có vẻ nhiều bệnh quá! Hai cậu tuy chưa có dịp sinh hoạt với anh em bao giờ nhưng cũng nhiệt tình đóng hội phí đầy đủ 2 năm rồi. Đến 18 h thì chia tay các bạn, tôi trở lại Cần thơ lo việc gia đình.
Cám ơn Phùng Sơn, Vũ "cháy" nhé! Các bạn nhiệt tình và chu đáo quá! Hình như mình hơi khách sáo quá thì phải? Dân trường mình ở đâu cũng đều thế mà!

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2010

ĐÊM GIAO LƯU CỦA TÌNH NGƯỜI.

Ở Hội An chúng tôi nghỉ trong Resort Đồng quê nằm bên bờ sông Hoài khá thơ mộng. Resort có 4 căn nhà song lập trong khuôn viên gần 2 ha, mỗi căn có 4 phòng. Ý đồ của chủ nhân muốn tạo cho du khách thấy được cuộc sống thôn quê Việt nam. Quanh khuôn viên có con đường làng rợp bóng tre, rải rác là những túp lều giới thiệu các nghề nấu rượu, tráng bánh cuốn, dệt chiếu, làm gốm ..v.v. Ý tưởng thì hay nhưng cachs thể hiện còn có gì đó khiếm khuyết nên tôi cảm thấy nó kênh kênh thế nào, nhìn đâu cũng thấy như có sạn trong nồi. Ngay như cái phòng nghỉ giá 40us, có rộng rãi thoải mái đấy nhưng chỉ có một giường đôi, cái chăn thì nhỏ làm đêm ngủ chúng tôi cứ phải co kéo chỉ thiếu nước cãi nhau
Được cái ông chủ mến khách và hay thơ. Cơm xong ngồi tán dóc dưới bụi tre “ làng “, nghe ông ấy đọc thơ cùng những câu chuyện ngày trẻ thấy vui vui . Là người của chế độ cũ mà thuộc rất nhiều bài thơ miền Bắc. Chúng tôi hứng lên cũng hát mấy bài tiền chiến và cả nhạc vàng nữa, ông chủ hỏi :” Anh là lính Việt cộng mà sao biết hát những bài này ?”
Ngày ấy và cả bây giờ tôi vẫn hát những bài hát nào tôi thích, tôi cảm nhận được tình người trong nó.
Nổi hứng ông kêu tối mai ông sẽ mời một số anh em đến giao lưu, thành phần Việt cộng có, Cộng Hòa có và cả dân ăn cơm Cộng Hòa ,thờ ma Cộng Sản...Chúng tôi đồng ý.
Thế là 35 năm sau ngày thông nhất đất nước, hôm sau chúng tôi cùng dự một buổi giao lưu đủ mọi thành phần thật, ngoài những người lính từ hai phía còn có thêm một số Việt kiều từ Canada, Mỹ và Úc cũng tham gia.
Chiến tranh đã lùi xa, không còn chiến tuyến nữa khoảng cách được gần lại cùng thời gian. Cái ấu trĩ của bên này, cái mặc cảm hằn học của bên kia đã không còn. Mọi người ngồi bên nhau đều là con dân đất Việt, đều đã từng cùng chịu những nỗi đau chiến tranh, thật đồng cảm. Chính kiến , bức xúc hôm nay đâu đó vẫn còn trong mỗi người nhưng đêm nay mọi người gác bỏ và cùng nhau chung tiếng hát, tiếng lòng và nối vòng tay lớn.
Các anh về, Màu tím hoa sim, Hòa bình ơi ...Tiếng hát vang lên một góc phố cổ, bên sông Hoài lặng lẽ bình yên. Những con người của một thế hệ, một thời khói lửa binh đao, một thời chia ly, loạn lạc hôm nay cùng hát bên nhau. Đâu đó nụ cười ấm áp chân tình, đâu đó những giọt nước mắt ngậm ngùi của một lớp người như thế...

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2010

Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ

 EGK9
Đọc những dòng ghi chép của KV trong đợt về lại Điện bàn, tôi lại nhớ tới những câu thơ của nhà thơ Dương Hương Ly, một nhà thơ đã viết nhiều câu thơ lắng đọng trong con tim của bao thế hệ thanh niên Việt nam trong thời chống Mỹ cứu nước. Những Đất quê ta mênh mông, Bài thơ về Tình yêu, Bài thơ về hạnh phúc, Xin cám ơn những ngày gian khổ, Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ…tất cả, tất cả đều được gửi đi từ trong bom đạn ác liệt của đất Quảng đà, tất cả đều viết về tình yêu, về nhữg con người của đất Quảng đà. Theo bước chân của những người CCB về lại mảnh đất huyền thoại này, xin trân trọng chép tặng các bạn một vài đoạn trong bài thơ Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ do nhà thơ sáng tác 8/1968

Tôi trở về nơi chưa từng quen biết
Nơi lạ nẻo đường đi lạ dáng người
Nhưng hằng gọi lòng tôi thống thiết
Từ những năm xa xôi
Tôi trở về đất mẹ Quảng nam tôi
Dẫu chẳng nơi đây cất tiếng chào đời
Đất Tổ quốc đâu cũng là đất mẹ
Ôi Tổ quốc mối tình kỳ lạ thế
Càng trong lửa đạn lại càng tươi
….
Sướng vui thay được chiến đấu nơi này
Nơi Ông Ích Khiêm
Nổ phát súng đầu tiên
Vào tên lính thực dân thứ nhất
Nơi sinh thành những Hoàng Diệu, Thái Phiên
Dẫu chết không chịu hàng chịu khuất
Sướng vui thay được chiến đấu nơi này
Đâu đâu cũng gặp những tâm hồn chị Vân, chị Lý
Ôi mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ
Dấu chân ta gặp dấu chân Nguyễn văn Trỗi năm nào
Mắt ta nhìn gặp Lê Độ đẹp sao
Ngẩng đầu trong trận đánh
….
Hỡi em thơ anh thóang gặp trên đường
Mới chín tuổi mười mấy lần đánh giặc
Mìn đặt bên đông, chông gài bên bắc
Xe Mỹ nổ tung, xác Mỹ bay đầu
Còn em ngồi vắt vẻo mình trâu
Cất tiếng cười lanh lảnh
Em có biết em là sức mạnh
Anh đã mang theo suốt nghìn trận đánh
Hỡi em thơ anh thoáng gặp bên đường
Em chính là Quê hương
Con gặp mẹ ở Hòa Châu, Cẩm lệ
Một mình nuôi mấy chục thương binh
Trước súng giặc vẫn kiên lòng bảo vệ
Thương đứa con xa hơn cả đứa con mình
Khi chúng con san bằng quận lỵ Hòa vang
Khi chúng con đánh vào Đà nẵng
Con muốn nói: người làm nên chiến thắng
Chính là Người, mẹ hỡi, mẹ Quê hương
.....
Một lý do nữa khiến tôi muốn chép tặng bài thơ này là vì bài thơ được chép lại từ một tập thơ in trên giấy vàng ố, đã mất bìa mà tôi vô cùng nâng niu. Tập thơ Mảnh đât nuôi ta thành dũng sĩ mà tôi có trong tay là tập sách xuất bản bởi Nhà xuất bản văn nghệ giải phóng Trung trung bộ. In xong ngày 10 tháng 5 năm 1975 tại nhà in Đông phương- Đà nẵng. Một tập thơ có những câu thơ như “Cuộc đời vẫn đẹp sao/ Tình yêu vẫn đẹp sao” , hay “ Chợt có gì xao xuyến cả hồn anh/ Một đôi mắt đen ngời bên bếp lửa...” được xuất bản tại miền Nam chỉ 10 ngày sau giải phóng đã nói lên được rất nhiều điều, phải không các bạn...

Ảnh minh họa: Trang cuối của tập thơ
Cuộc đời vẫn đẹp sao
Sáng tác: Phan Huỳnh Điểu
Lời: thơ Dương Hương Ly
Trình bày: Ánh Tuyết.

EGK9

Cảnh báo!!!


Học chú ý, vì sao mở bàicó hiện tượng này.

Hình ảnh trường Trỗi tại Nhà kỷ niệm các trường học VN tại Quế Lâm

Anh Cao Cẩm Quỳ vừa gửi bài, ảnh về Nhà kỷ niệm trường học VN tại Quế Lâm. Trong đó có hình ảnh trường ta tại gian "Các trường học thời kháng Mỹ".

Tin ngắn: Bạn Trỗi miền Trung họp mặt 30/4

Bạn Trỗi Miền Trung gặp gỡ nhân lễ 30/4

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2010

Cầu Rạch chiếc

Mời xem VTV nói về trận Đặc công đánh và giữ cầu Rạch chiếc.

30/4- CẦU RẠCH CHIẾC VÀ NHỮNG CHIẾN SĨ ĐẶC CÔNG

Hôm nay 28/4/2010, nhớ lại ngày này 35 năm về trước, những trận đánh vô cùng ác liệt của các chiến sĩ đặc công đã diễn ra nơi đây nhằm đánh chiếm, bảo vệ cây cầu huyết mạch trên đường tiến công vào Sài gòn của quân ta. Để tử thủ SG, quân ngụy đã tăng cưởng một lực lượng mạnh để bảo vệ cầu, và chúng đã sẵn sàng cho nổ tung cầu để chặn bước tiến công của bộ đội ta vào SG. Chính vì vậy mà những trận đánh giằng co nơi đây giữa ta và địch đã diễn ra vô cùng ác liệt. Cách đánh của bộ đội đặc công ta cũng khác những trận đánh thông thường, thay vì bộ đội đặc công thường đánh từ trong đánh ra ( cách đánh "nở hoa trong lòng địch" ),thì trận này chúng ta lại đánh từ ngoài đánh vào. Hai trăm chiến sĩ đặc công của ta phải đương đầu với gần hai nghìn quân địch ! Đêm 27 rạng ngày 28/4 bộ đội ta đã chiếm được cầu , nhưng sau đó địch phản công quyết liệt và đến trưa 28/4 thì chúng đã chiếm lại được cầu. Bộ đội đặc công lại tiếp tục tiến công và đến tối 28/4 thì chúng ta đã hoàn toàn chiếm giữ cầu, và 2 ngày sau đó, ngày 30/4, các đơn vị của ta đã băng qua cầu tiến thẳng vào giải phóng SG. Trên 50 chiến sĩ đặc công đã ngã xuống trước cửa ngõ TP vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh trên chiếc cầu này. Những ngày này, mỗi lần đi về trên cầu Rạch chiếc, nhìn xuống dòng sông hiền hòa chảy, tôi lại chạnh lòng nhớ đến những người đồng đội của tôi đang yên nghỉ nơi đây! Mấy dòng thơ của Lê Bá Dương viết về đồng đội dưới sông Thạch hãn tôi xin được sửa lại đôi chút như sau:
Đò xuôi Rạch chiếc xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sông nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm...
Tôi không phải là bộ đôi đặc công, nhưng hơn 38 năm về trước cũng suýt trở thành lính đặc công. Hồi đó, khi nhập ngũ, mấy đứa cùng khu 16a LNĐ chúng tôi được bác Ngô Từ Vân ( bố của Ngô Tất Thắng ) xin vào đơn vị đặc công và gửi huấn luyện tại Trung đoàn 59 Bộ tư lệnh thủ đô. Nhưng không hiểu vì sao hết khóa huấn luyện, tôi và NT Thắng, HH Thắng đều được bổ sung vào sư 312 và đều trở thành lính Công binh, còn Đạt thì trở thành lính Hải quân.
Giờ đây, khi đã nghỉ hưu, ngẫu nhiên, tôi lại chọn nơi đây làm nơi ở của mình cho quãng đời còn lại. Tôi đang làm nhà ngay cạnh cầu RC, nên ngày ngày vẫn đi về trên chiếc cầu này. Nghe nói Thành phố đã có kế hoạch xây đài tưởng niệm các chiến sĩ đặc công nơi đây, nhưng không hiểu sao giờ đây vẫn chưa thực hiện được. Ban quản lý dự án khu dân cư Bắc RC, nơi tôi đang xây nhà cũng đã tạm lập bia tưởng niệm các chiến sĩ đặc công RC. Bạn bè mình nếu có dịp qua đây, dù có phải là lính đặc công hay không, xin mời ghé nhà tôi chơi, câu cá trên sông RC và thắp cho hương hồn các chiến sĩ đặc công một nén nhang!

A Lưới













Phía Nam A Lưới 8km, TQ đi ngắm hoa ven đường.












Các cháu rất ngoan và hồn nhiên, không như trẻ em ở SaPa












Gặp lũ trẻ ở một xã phía Bắc A Lưới

Thứ Ba, 27 tháng 4, 2010

VỀ ĐIỆN NGỌC (Tiếp theo)

Tại Điện Ngọc, chúng tôi lần lượt gặp bác Tám Trình, bác Năm Xuân, anh thương binh nặng tên Nữa, đại đôi trưởng đại đội 3 tiểu đoàn 1 mặt trận 4 Quảng Đà ...người nào cũng kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về trận đánh bi hùng năm xưa, mỗi người ở cương vị và góc nhìn của mình đã giúp chúng tôi hình dung ra trận đánh ngày đó. Không chỉ kể mà ai cũng sẵn sàng bỏ việc nhà để giúp chúng tôi nếu cần.
Những người nông dân mặc áo lính ấy, thôi đánh giặc lại trở về làm ruộng, cũng chẳng còn nhiều nữa. Bác Tám Trình từng là xã đội trưởng cựu trào năm đó, kiên gan bám trụ với hàng chục trận đánh. Nay đã 74 tuổi nhưng vẫn cần cù lao động bên mảnh vườn nhà. Khi chúng tôi vào bác đang ngồi thái thuốc rê, bền bỉ đưa đi đưa lại con dao trên giá, những sợi thuốc đều tắp được ép đều trên tấm liếp chờ phơi nắng. Trong căn nhà tềnh toàng ấy là hai tấm bằng liệt sĩ, bác kể ngày đó anh em hy sinh nhiều lắm, cả người trong này lẫn anh em ngoài Bắc vô, rồi than :” Hy sinh nhiều lắm, có thể nói là cả một lớp người “.
Bác Năm Xuân từng là CTV xã đội thì khá hơn vì sau đó thoát ly lên huyện, rồi tỉnh nên khi về cũng xây được căn nhà khá đẹp so với những người trong xóm. Được cái xác nhà chứ bên cũng chẳng có gì đáng giá.
Nghèo lắm nhưng giàu nghĩa và nặng tình đồng đội, các ông lục tìm trong trí nhớ của mình kể cho chúng tôi nghe chi tiết trận đánh. Cả hai người du kích già đều khảng định trận đó ta không dứt điểm, anh em hy sinh nhiều và không ai được đưa ra, tất cả đều đã nằm lại trong căn cứ Mỹ. Từ các ông, chúng tôi tìm đến gia đình anh Nữa, một thương binh nặng chỉ còn có đôi tay, việc đi lại với anh thật khó khăn vậy mà mấy chục năm nay vẫn đi tìm đồng đội và đau đáu nỗi đau chưa đưa được anh em về. Anh kể với chúng tôi ngày ấy anh là biệt động quân 3 của Đà Nẵng, được tăng cường cho tiểu đoàn 1 làm nhiệm vụ trinh sát và đưa bộ đội về đánh cứ. Quân xuống hơn một tiểu đoàn mà quân lên chẳng còn bao nhiêu. Tiếng súng trong cứ điểm cứ thưa dần cho đến 10 giờ sáng hôm sau, tất cả họ đều nằm lại...
Trên đường gặp một CCB đi làm đồng về 

Dù hai chân chẳng còn, anh vẫn hăng hái dẫn chúng tôi tìm nhà anh Tróng đại đội trưởng đại đội 3. Nhìn anh lê người bằng hai chiếc ghế đẩu mà ái ngại, chúng tôi không nén được xúc động.
Tôi chạy xe theo anh trong cái nắng gay gắt xứ Quảng, anh Tróng vắng nhà, anh lại dẫn chúng tôi ra đồng tìm, đi cho đến khi hết đường xe chạy. Không thể lội ruộng cùng chúng tôi được anh mới đành ngồi lại chờ chúng tôi bên bờ ruộng.
Anh Tróng nghe chuyện, bỏ đàn vịt ngoài đồng về giúp chúng tôi. Bác nông dân xứ Quảng đã cung cấp thêm nhiều chi tiết quí giá về trận đánh và LS là chiến sĩ của mình. Khi biết chúng tôi sẽ về ăn cơm tại nhà anh Nữa, bác mới yên tâm quay về với đàn vịt. Trên đường đưa bác Tróng về với đàn vịt , tôi ghé cái quán nhỏ đầu làng mời bác chai bia, bác uống một hơi thật ngon lành. Nhìn người lính già năm xưa mà thương quá, đã ngoài 70 rồi vẫn phải đội nắng, lội ruộng kiếm sống. Người lính xưa nhiều chiến công và trên người đầy thương tích ấy thật hiền từ, chận chất vậy mà chẳng công thần, đòi hỏi, không như những người đóng góp chưa bao nhiêu mà đã hô hào hợm hĩnh .
Hai ngày ở Điện Ngọc, Điện Bàn qua nhà nào tôi cũng đều thấy những tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công, nhiều nhà không chỉ một mà ba, bốn cái, mới thấy mảnh đất và con người nơi đây đã hy sinh nhiều lắm cho ngày chiến thắng của dân tộc hôm nay.
Cảm phục và biết ơn

Cùng ăn với gia đình bữa cơm rau

VỀ ĐIỆN NGỌC

Tôi cùng Lixeta một thành viên quansuvn.net nguyên là chiến sĩ lái xe tăng đại đội 4 của Bùi Quang Thận, đơn vị đầu tiên vào cắm cờ trên dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, rủ nhau thực hiện một chuyến đi hai trong một. Trở lại thăm chiến trường xưa và tìm hiểu về trường hợp hy sinh của LS Nguyễn Duy Thính, anh vợ của Lixeta. Kết quả chuyến đi thật ngoài sức tưởng tượng, có thể nói thành công đến 90% phần công việc phức tạp như tìm kim dưới biển này. Câu chuyện tìm kiếm LS Thính dài dài, người trong cuộc phải gom nhặt từ những thông tin nhỏ nhất, sàng lọc để tìm kiếm và được sự giúp đỡ của rất nhiều người, có cơ duyên may mắn mới hy vọng. Tôi không có ý định kể khi sự việc chưa thành hiện thực mà chỉ xin kể với anh em những gì tôi gặp và cảm nhận trong hành trình tìm kiếm LS, đó là đất người Điện Ngọc, Điện Bàn của “ Quảng Nam đi đầu diệt Mỹ “ năm xưa.

Tượng đài dũng sĩ Điện Ngọc







 Bắt đầu là những câu chuyện trong quansuvn.net, các thành viên là CCB có hầu hết khắp các tỉnh thành và họ cũng đủ mọi thành phần trong xã hội, chỉ biết nhau qua những trang viết, đúng là ảo ! Nhưng khi có chuyện gì đó thì cái ảo bỗng dưng thành thật, thật đến chân chất như vốn có của người lính chiến năm xưa.
Thông tin ban đầu về LS Thính chỉ có tờ giấy báo tử vẻn vẻn mấy chữ: “ Đơn vị F2, hy sinh tại mặt trận phía Nam “, rồi sau có thêm lá thư của một đồng đội viết về: "Hy sinh trong trận đánh cứ điểm Cồn Khe ngày 2/5/1969, được chôn cất ở gần nơi có dân ở....
Cồn Khe, cái địa danh này ngày nay không còn nữa, nên việc tìm kiếm của gia đình gần như vào ngõ cụt. Hỏi các phòng ban của QK5 thậm chí họ còn không biết đến cái trận đánh bi hùng năm đó. Ôi ! Sử với sách sao họ chỉ có hoa, còn máu của bao LS người ta có thể quên nhanh đến thế vì những lý do rất không đáng có.

Cũng nhờ mạng mà Lixeta nhận biết được Cồn Khe là địa danh xưa ở Điện Ngọc và anh em CCB lại xúm vào. Nick_Ongbom từ Bình Định giới thiệu một CCB khác tên Vinh đang ở Đà Nẵng người gốc Điện Ngọc sẵn sàng giúp đỡ. Vinh đã bỏ việc Công ty đi cả ngày với chúng tôi tìm các nhân chứng của trận đánh Cồn Khe.

Vợ chồng anh Nữa, chị nhà cũng là một cựu chiến binh, 40 năm tuổi Đảng






Lên đường cùng chúng tôi đi tìm đồng đội
(còn tiếp)

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2010

KÊ MINH THẬP SÁCH

Nhà Trần một thời lịch sử oai hùng là vậy mà sau thì quá mục ruỗng. Chế Thắng Phu Nhân Nguyễn Bích Châu (Sinh=?; mất 1377) dâng “Kê minh thập sách” lên vua Trần Duệ Tông. Vua vỗ đàn khen hay, nhưng không dám thực hiện.
Để rồi năm 1400 nhà Trần bị nhà Hồ soán vị, và cuối cùng nước Nam mất về tay giặc phương Bắc.
Kính các bác một tuần mới vui khỏe.

KÊ MINH THẬP SÁCH
1) Bền gốc nước, trị kẻ bạo tàn thì lòng dân yên;
2) Pháp luật nghiêm minh, bỏ phiền nhiễu thì nền hành chính không rối;
3) Ngăn chặn bọn lạm quyền để tránh họa ngầm cho nước;
4) Trừ tham nhũng cho dân đỡ khổ;
5) Chấn hưng giáo dục như lửa đuốc sáng tỏ đất trời;
6) Cầu lời nói thẳng, mở rộng ngôn luận như mở cửa thành;
7) Tuyển quân tìm sức mạnh hơn là mẽ người;
8) Chọn tướng cốt tài thao lược, chớ vị nể con ông cháu cha;
9) Khí giới cốt sắc bén, khỏi cần trang trí hình thức;
10) Trận pháp cốt tề chỉnh, không cần múa may phô trương.

Nguyên bản:
Nhất viết: phù quốc bản, hà bạo khử tắc nhân tâm khả an.
Nhị viết: thủ cưu quy, phiền nhiễu cách tắc triều cương bất vặn.
Tam viết: ức quyền hãnh, dĩ trừ quốc đố.
Tứ viết: thải nhũng lại, dĩ tỉnh dân ngư.
Ngũ viết: nguyện chấn Nho phong, sử tước hỏa dữ nhật nguyệt nhi tịnh chiểu.
Lục viết: nguyện cầu trực gián, hội thành môn dữ ngôn lộ nhi tịnh khai.
Thất viết: luyện binh, đương tiên dũng lực nhi tả thân tài.
Bát viết: tuyển tướng, nghi hậu thế gia nhi tiên thao lược.
Cửu viết: khí giới, quí kỳ kiên nhụệ, bất tất thỉ hoa.
Thập viết: trận pháp, giáo dĩ chỉnh tề, hà tu vũ đạo.

Nguồn:

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Mừng thọ thầy Mai Duy Vọng.


Trưa nay, học sinh các khóa đã đến mừng thọ thầy 80 tuổi. Riêng học sinh trường Trỗi đã chiếm hết 2 bàn trong tổng số 4 bàn tiệc. Thầy rất vui, chụp chung với từng học sinh cũ. Sau buổi tiệc, số học sinh còn ngồi lại ca hát cùng thầy những bài hát truyền thống như: "Trường ca", "Vì nhân dân quên mình", "Tiến bước dưới quân kỳ"...Mãi đến hơn 13h mới giải tán. Vui!