Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2009

Du ngoạn

Ra Giêng ngày rộng,tháng dài. Kinh tế suy thoái, ít việc tranh thủ du ngoạn cho biết đó đây, thưởng thức thêm cảnh đẹp cho vui tuổi già, kết hợp thỏa mãn cái thú vui "săn bắn".
Bỏ ra 2 ngày,"nhặt nhạnh" được vài hình ảnh phong cảnh khu di tích Miếu Bà chúa xứ núi Sam, Châu đốc, An giang giới thiệu các bạn cùng thưởng thức.






H1: Khu di tích Miếu Bà nhìn từ đỉnh núi Sam.










H2: Nán lại trên đỉnh, khi mọi người đã xuống núi.







H3: Miếu thờ Bà Chúa xứ.








H4: Miếu thờ Ông (chả biết là ông nào, vì thờ rất nhiều Phật).





H5: Bình minh (Theo dân địa phương,vùng này rất hiếm khi có sương mù). Mặt trời chỉ xuất hiện được khoảng 30 phút, sau đó sương mù chùm kín nhà cửa, ruộng đồng.






H6: Sáng sớm tôi trèo lên núi, thật may mắn được chiêm ngưỡng cảnh đẹp hiếm có. Chỉ một lát sau, từ trên núi nhìn xuống chỉ còn thấy sương mù không còn thấy cảnh vật.








H7: Hoàng hôn (trên đỉnh núi Sam)









H8: Những con rạch trên cánh đồng như dòng nham thạch dưới ánh nắng chiều.







H9: Đường chính lên, xuống núi quanh co và rất dốc, chỉ thấy xe honda ôm chở người không thấy ôtô. Thường khi lên mọi người trèo theo bậc phía trước núi-đối diện Miếu Bà, khi xuống thì đi xe ôm theo lối này.





H10: Miếu nhỏ trên núi ( trên đường lên núi, vô vàn miếu thờ Phật, Mẫu, Sơn thần...).

Trả lời những gì bạn hỏi trong bài "Những kỷ vật kháng chiến"

Đã đọc bài của Thái và comment của anh em, nhất là phần Hữu Thành góp ý. Thiết nghĩ, chúng ta - những lính Trỗi - rất biết ơn những ai đã cưu mang, đùm bọc, dạy dỗ, giáo dục mình nên người. Với nước bạn Trung Hoa thì chúng ta tích cực tham gia công tác "ngoại giao nhân dân" góp phần xây dựng mối tình hữu nghị ấy ngày càng phát triển. Chúng ta có những người bạn rất tốt. Còn những gì đi ngược lại điều ấy, chúng ta phản đối.
Xin post lại bài đã đăng trên Bantroi cuối năm 2007 để hiểu hơn về tình cảm của người dân Trung Quốc đối với chúng ta. Mời xem tại đây!

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2009

Những Kỷ Vật Kháng Chiến

Mình đang theo dõi buổi truyền hình trực tiếp "Những kỷ vật kháng chiến". Một chương trình xây dựng chu đáo, hay. Nhiều tình cảm đan xen khi xem chương trình này.
Lúc chiều mình vừa than phiền trên Blog với anh H Thành về cảnh chia tay "tang tóc" của một nhóm thanh niên lên đường nhập ngũ trong buổi phát hình tối hôm qua. Mình đã rất bi quan về thế hệ trẻ ngày nay: (Hôm qua em xem TV (thời sự) thấy cảnh tụi thanh niên khóc lóc đưa tiễn bạn trai tòng quân, nghĩ: nếu bây giờ có ngoại xâm thì không biết đất nước ra sao đây? Em thấy thế hệ anh em mình vẫn còn sướng vì cuộc sống tinh thần đối với mình vẫn còn được trân trọng nhiều lắm. Cứ thấy ngày nào cũng có bài trên Ut thì biết!)
Bây giờ xem chương trình này, mình lạc quan lên rất nhiều. Nếu có điều kiện, mọi người xem và chia sẻ suy nghĩ của mọi người nhé!

My Valentine

Ca khúc này được sáng tác dành riêng cho Lễ Tình nhân. Valentine nằm trong album Evolution của nữ hoàng nhạc đồng quê Martina McBride được phát hành vào năm 1997. Bài hát này sau đó nhanh chóng leo lên vị trí cao ở nhiều bảng xếp hạng trên thế giới. Valentine là lời tâm sự của cô gái dành cho người mình yêu vào ngày lễ thiêng liêng của đôi lứa, được thể hiện qua giọng ca ấm áp Martina McBride cùng tiếng đàn piano du dương của nghệ sĩ nổi tiếng Jim Brickman. Valentine đã trở thành ca khúc phổ biến nhất vào mỗi dịp 14/2 hàng năm.
“… I will give you my heart
Until the end of time
You're all I need, my love, my Valentine…”
“… Em sẽ trao cho anh cả trái tim
Cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời
Anh là tất cả những gì em cần ở trên đời, là tình yêu của em…
NhacVietPlus
Ảnh: Ca sĩ Martina McBride

CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ “ĐÁM CUỚI KHÔNG CÓ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN”

Đầu 1965, sau khi anh Trỗi hy sinh, đúng 30 tết, chị Quyên được tổ chức bí mật đưa ra Y4 (trong Nam quen gọi là “Y tư”) – đại bản doanh của Bộ chỉ huy mặt trận Sài Gòn – Gia Định đóng tại Hố Bò (Củ Chi), sau đó ra vùng giải phóng trên Tây Ninh. Khoảng tháng 9,10/1965, đ/c Sáu Dân từ mặt trận Y4 về họp với cơ quan Phụ nữ giải phóng. Biết chị mới từ thành phố ra, qua các chị bên Phụ nữ, chú Sáu thăm hỏi và gửi cho chị 100 “ria” (tiền Miên). Từ đó, mỗi lần về họp, chú đều có quà cho chị.
Ngày 16-5-1969, chị được tổ chức cho ra Bắc theo đường Campuchia cùng chị Nguyễn Thị Châu (vợ anh Lê Hồng Tư – tử tù Côn Đảo). Từ 1970, chị được về học tại trường Phổ thông Lao động Trung ương sơ tán tại Từ Hồ, Bần Yên Nhân, Hưng Yên (ngày đó trưòng có mật danh là HT2). Những năm đó trường có đến cả ngàn học viên và chia làm 2 khối : khối A cho cán bộ miền Bắc, khối B cho cán bộ miền Nam.
Trong số cán bộ miền Nam đi học thì đa số là cán bộ của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên đổ ra tới Quảng Trị; còn số anh chị em ở B2 (từ khu 6 đổ vào tới khu 9, Cà Mau) rất ít, quân số không quá 20 người. Chính vì đặc điểm này, anh chị em B2 thương yêu nhau như trong một nhà. Họ thường gặp gỡ, kể nhau nghe chuyện quê hương, gia đình. Đặc biệt, anh em miền Nam có biệt tài bắt cóc làm thịt. Tối thứ bảy, nếu không bận, các anh chị lại rủ nhau ra bờ sông bắt cóc, các anh thì bắt cóc bỏ bao tải, còn các chị thì xách bao tải cóc về nhà. Cả nhóm tối đó tập trung làm thịt cóc, nấu cháo và ăn xì xụp. Chủ nhật, các anh chị thường đi chợ, mua thịt cá, rau sống về “cải thiện”. Trong số này có chị Quyên và anh Thiện, anh nấu ăn rất gỉỏi, có thể chế biến các món ăn Nam bộ. Hai người đã thân thiết nhau, tình cảm yêu thương dần nảy nở.
Cũng năm 1973, nhân dịp tiễn chị Châu và chị Duy Liên về lại miền Nam tại nhà chú Lê Toàn Thư – Phó ban Thống nhất Trung ương (bố của Tất Thắng k4, Toàn Thịnh k7), chị Châu có ghé tai chị nói nhỏ: "Chú Sáu Dân và chú Mười Cúc đang ra ngoài này họp. À, mà chị có kể chuyện của em và anh Thiện cho chú Sáu nghe đấy”. Xa miền Nam đã 4 năm, nhớ nhà, nhớ quê da diết, chị đã xin phép chú Thư cho lại thăm chú Sáu và chú Mười để hỏi thăm tình hình quê hương và cơ quan trong đó.
Lần đó, chú Thư và chú Tô Lâm (nguyên Phó ban Tuyên huấn Trung ương cục) đã đưa chị và anh Thiện tới thăm chú Sáu. Gặp chú, anh Thiện chào :
- Chào anh Sáu !
- Trời, mày đó hả Dũng ? – chú bắt chặt tay anh và quay sang chị Quyên – nghe Châu nói, học ở ngoài này, cháu có quen thân với thằng Thiện, mà Thiện có thời gian làm cơ yếu ở Y4. Chú nghĩ hoài mà không nhớ có ai tên Thiện. Té ra, Thiện chính là Tư Dũng, Lê Tâm Dũng.
… Hồi đầu 1965, anh Tư Dũng được phân công về làm cơ yếu ở Y4, ngày đó chú Sáu cũng ở Y4. Mậu thân 1968, anh được cùng chú Sáu trực tiếp xuống chỉ đạo mặt trận Sài Gòn – Gia Định. Sau khi về lại “R”, anh đuợc tổ chức phân công sang Sứ quán Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Phnôm-pênh và do yêu cầu bảo mật, anh phải đổi tên là Lê Trung Thiện. Năm 1970, sau khi Chính phủ Xi-ha-nuc bị đảo chính, anh được ra Bắc. Sau đó, anh đưọc phân công phụ trách một đoàn dũng sỹ diệt Mỹ miền Nam sang thăm Tiệp Khắc. Đến đầu 1971, anh được vào học tại HT2.
Nghe kể lại, chú Sáu cười :
- Thôi, Tư Dũng thì cứ xưng hô “anh em “ cho tiện, còn Quyên cứ giữ nguyên cách gọi “chú cháu”. Thế hai đứa làm đám cưới đi !
Mừng quá, nhưng chị lại mách ngay với chú :
- Ở ngoài này cưới phức tạp lắm chú ơi, phải đi đăng ký kết hôn. Khi đăng ký, Uỷ ban lại đưa tên 2 nguời lên bảng để nhân dân xem có đúng là anh chưa vợ, chị chưa chồng hay không; nếú đúng thì một tuần lễ sau mới cho đặng ký… Mà thôi, để cháu học xong rồi về Nam cưới luôn thể.
- Không nên vậy, nếu cháu học đại học phải 4-5 năm sau mới xong, lâu lắm. Năm nay Quyên đã 29, còn Tư Dũng đã 37 rồi. Cưới đi, nhất là dịp này đang có chú ở ngoài này. Thế hiện nay 2 đưá quân số ở đâu ?
- Dạ, quân số trong Nam quản lý ạ. Vì quân số trong Nam, nên khi có bầu cử ngoài này, tụi cháu không được đi bỏ phiếu.
Khi đó, chú Sáu cuời và quay sang chú Thư :
- Nếu là quân số trong Nam thì có thể cươí không phải đăng ký. Trong chiến trường miền Nam, thủ tục rất đơn giản. Khi 2 anh chị yêu thương yêu nhau và quyết định xây dựng gia đình thì chỉ cần báo cáo tổ chức là xong, sau đó sẽ làm đám cưới mời mọi người. Nên ta có thể tổ chức cho Quyên và Tư Dũng cưới “kiểu miền Nam” vậy.
- Ý anh như vậy, thì ta sẽ tổ chức cho 2 đưá cưới “không đăng ký”- chú Thư trả lời.
Thế là vaò đợt nghỉ lễ Lao động quốc tế năm đó, ngày 29-4, đám cưới “không có đăng ký kết hôn” của anh chị đã được tổ chức tại nhà chú Lê Toàn Thư ở 57 Phan Đình Phùng, Hà Nội. Chú Thư đứng ra làm chủ hôn. Tối đó, các cô chú ở Ban thống nhất Trung ương, cả chú Sáu Dân và các anh chị bên Trung ương Đoàn, các anh chị trong Nam ra đang học chung với chị và anh Tư, cùng bà con họ hàng chị ở thôn văn Giáp (thường Tín, Hà Đông)… đã đến dự đông đủ. Đám cưới ngày ấy tổ chức theo kiểu “đời sống mới” thật đơn giản, chỉ có kẹo bánh, thuốc lá, nước trà, nhưng thât là vui.
Sau gỉai phóng, vì đang học dở dang, nên đến tháng 9-1976 chị mới trở về thành phố. Đến năm học thứ tư, 1979, tuy đang có bầu cháu đầu lòng, chị vẫn không bỏ buổi học nào. Thậm chí, tối chủ nhật vào viện sinh cháu , thì ngày thứ bảy chị vẫn lên lớp nghe giảng. Anh chị đặt tên cháu là Lê Tâm Việt để kỷ niệm, trước khi hy sinh, anh Trỗi đã hô vang: ”Việt Nam muôn năm!”. Nay Việt là cảnh sát hình sự Công an TPHCM. Năm 1987, chị sinh cháu gái đặt tên là Lê Phan Hồng Nga để kỷ niệm tình hữu nghị Việt-Nga khi mẻ dầu thô đầu tiên được Vietsovpetro hút lên. Cháu Nga rất ngoan và học gỉoi.
1980, sau khi ra trường, chị về công tác tại Cty Du lịch TP cho đến khi nghỉ hưu. Còn anh tư Dũng sau về Thành uỷ TPHCM công tác trên cương vị Chánh Văn phòng, sau khi anh Triết (Sáu Phong) ra HN làm Chủ tịch nước thì anh Tư cũng ra giúp việc 1 thời gian. Nay anh về nghỉ ở TPHCM. Anh chị sống thật hạnh phúc!
(Ảnh tư liệu gia đình: Anh Tư Dũng, chị Quyên và chú Sáu Dân trong ngày cưới ở HN).

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2009

Khủng bố bằng ... hoa

VinhNQ tinh vi nói UT là một vườn hoa đẹp. Ok, xin góp ít hoa nhặt nhạnh suốt mấy năm rồi. Liệu mọi người có biết hết không nhỉ?

Lan Hài, ở nhà 16/9/2006.

Sen ở hồ đền Sóc, Xuân La, q. Tây Hồ, HN, 29/6/2006

Hoa cỏ trắng ở nhà vườn, 9/12/2006

Hoa chua me ở nhà vườn, 22/4/2007

Hoa cỏ dại, Tam Đảo, 10/6/2007

Dâu đất dại, Tam Đảo, cùng ngày

Hoa cỏ dại, Tam Đảo, cùng ngày

Súng trắng vườn TS Nghiêm, 22/9/2007

Súng đỏ vườn TS Nghiêm, cùng ngày

Lũ hoa đào Mẫu Sơn, trên núi và ở nhà, năm ngoái và năm nay







Anh đào rừng, Mẫu Sơn, năm ngoái

Hồng dại trắng, Mẫu Sơn, năm ngoái

Hoa đào Mẫu Sơn, Mẫu Sơn, năm ngoái

Hoa dại vườn nhà chị em ĐT.Trâm, năm ngoái

Đã có tầu khách du lịch Gia Lâm-Nam Ninh

Từ 1/1/2009 đã khởi động chuyến tầu du lịch chạy đường ray khổ 1,4m với 2 chuyến/tuần, 1 chiều.
- Giá vé: khoảng 700.000đ/khách, giường cứng và 1.000.000đ/khách, giường mềm. (40 và 70 France Thuỵ sĩ).
- Thời gian chạy tầu: gần 1 ngày.
Thông báo cùng anh em!

Kết thúc chuyến "công tác" nước ngoài! Tối nay có thể gặp bạn bè Ut tại vườn treo rồi.

 
Posted by Picasa

Thông tin thêm về sơ đồ mộ chí của bạn Nguyễn Văn Hoà và Hoàng Châu Linh

Chị Niệm đã chuyển sơ đồ mộ chí của cán bộ, học sinh VN mất tại Quế Lâm cho chúng ta. Tin này đã được post lên Uttroi. Nay có tin bổ sung, mời vào đây xem tin!
BLL k7, k8 đã tìm được gia đình 2 bạn Hòa, Linh chưa?

THÊM MỘT TƯ LIỆU QUÍ

Góp thêm tấm hình nữa về một bạn Trỗi K7 nữa với Bác Hồ.
Trong lần Bác về thăm cán bộ , nhân viên báo Nhân Dân (cuối năm 1956), đến nhà trẻ Bác dắt tay hai đứa trẻ một nam, một nữ. Cậu nhóc được Bác dắt tay là Phan Phan Hoàng K7 trường Trỗi chúng ta đấy.
Nguồn ảnh do Phan Phan Hồng.

Bức ảnh tư liệu quý

Thật là hay vì trường ta là nơi tập trung con em các bậc trưởng lão thế hệ 1 và 2 nên đây là 1 kho tư liệu vô giá.
Hôm qua cùng anh Bùi Vinh lên Thái Nguyên, đoàn tạt qua thăm Bằng Hà k7, thượng tá, cán bộ QK1, nay nghỉ hưu tại Tp Thái Nguyên. Ông già Hà là cụ Dương Đại Lâm, cơ sở của Bác Hồ từ năm 1941 khi Người từ TQ về VN. Cụ Lâm còn là 1 trong 34 chiến sĩ VNTTGPQ từ ngày thành lập 22/12/1944.
Năm 1961, sau 20 năm trở về VN qua đường Cao Bằng, Bác đã về thăm lại Pắc Bó. Bác đã chụp cùng gia đình cụ Lâm và bà con tại ngôi nhà sàn của gia đình. "Cái cậu bé đội mũ nồi đỏ - Hà kể - ngồi bên tay phải Bác chính là tôi". Cụ Lâm mất năm 1981, thọ 67 tuổi.
Năm 1966, đang ở Cao Bằng, Hà được bà Đàm Quang Trung đưa xe lên đón về Trường Trỗi. Đêm đầu được phân ngủ với Bình Thanh. Cả đêm thấy Thanh gãi sột soạt, nhưng mệt vì đi đường xa nên ngủ say như chết, sáng ra mới biết hắn bị ghẻ. Đấy là "bài học đầu tiên" với cuộc sống tập thể Trường Trỗi. Năm 1973, khi huấn luyện ở Vĩnh Yên thì gặp lại Việt Triều. Rồi phải mấy chục năm sau mới tìm được bạn bè. Mạnh Thắng ngồi sau lưng cứ lấy tay xoa lên mái tóc xanh rì của Hà miệng lẩm bẩm: "Chắc ông bạn được uống nhiều thuốc dân tộc quý hiếm đây?!". Nay Hà còn hành nghề bốc thuốc chữa vô sinh. Nhiều cặp khó khăn nhờ Hà giúp đã có con.
Hà thât sự vui và hứa sẽ sinh hoạt đều với anh em k7!
(Ảnh trước nhà Hà: Từ trái qua - anh Bùi Vinh, Hà, anh Thái Chi, Quốc, Thắng).

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2009

ĐI ĐẠI TỪ ĐẦU XUÂN

Trưởng BLL k7 Hoàng Mạnh Thắng triệu tập đi Thái Nguyên , “mõ” này lại xin phép A Trưởng đi công cán theo trách nhiệm ae k7 đã phân công. Cùng bác K.Quốc đến số 2 Hoàng Văn Thụ mới biết chuyến đi này do BLL trường tổ chức , Bác Bùi Vinh và Tổng thư ký Thái Chi chủ trì. Cùng lúc có hai ông “mõ truyền thông”, biết phận loại mõ cấp “xóm” nên tôi chỉ có bài về những cái râu ria của chuyến đi, còn nội dúng chính đã có bác Quốc lo.

Đích đến chuyến đi là Yên Mỹ, Đại Từ mà mãi 9 giờ hơn mới xuất phát, lên đến Thái Nguyên đã đến giờ kiến bò bụng, mọi người bàn nhau kiếm chỗ gì đó giải quyết rồi gọi anh em quen biết Thái Nguyên cùng ra ngồi với nhau cho vui coi như cuộc gặp đầu năm vui vẻ với anh em Thái Nguyên, đầu giờ chiều về xã là đẹp. Bác Vinh ưu tiên cùng anh em K7 vào thăm nhà Bằng Hà trước. Vợ chồng Bằng Hà rất vui cứ muốn giữ đoàn ở lại ăn cơm nhưng khi biết KH của đoàn phải đi Đại Từ nên đành thôi. Bằng Hà lại nhập đoàn ( Ông này huyết áp rất cao, vợ đồng ý cho đi thật không dễ, nhưng với Trỗi thi vô tư).


Ra đến một quán trong phố, lại gọi được bộ lãnh đạo trường Thiếu sinh quân quân khu I đến giao lưu. Giám đốc nhà trường Đàm Văn Dũng ( con chú Đàm Văn Ngụy một trong những tướng trận mạc trước kia ) dù là dân K9 những phong cách rất Trỗi. Các bác nhìn ảnh thấy cái cô áo đen cũng là dân nhà binh có nòi đấy, bác nào tửu lượng kém thì nên kìm hãm bớt những lời có cánh , kẻo mà vạ miệng , ngất không biết đường về.

Cuộc giao lưu thật vui vẻ, khi nghe anh em mình hát bài “sinh ra trong khói lửa” GĐ Dũng và các cán bộ trường TSQ Quân khu I nhất định yêu cầu phải cho người lên truyền lại bài hát ấy cho trường_ Điều này phải cảm ơn thầy Hồng Tuyến đã cho chúng ta một bài hát tuyệt vời. Chúng tôi còn được vào thăm qua trường trước lúc chia tay, chủ nhà thật tình cảm và mến khách.



Ở xã Yên Mỹ , anh em ta như những người nhà , làm việc xong chỉ uống với nhau đúng một chén rượu suông nhưng tình nghĩa, rồi lại đi.





Qua thăm nhà trẻ xã, nhìn các cháu chơi vui lại mừng cho vợ chồng bác Ngữ và các bác K4







Đoàn làm việc với huyện Đại Từ, lại có thêm Văn K7 (trưởng phòng y tế huyện) cùng tham dự.






Chẳng thể từ chối được cô bí thư huyện xinh đẹp, anh em chúng tôi ở lại cùng hát những bài hát truyền thống và uống với nhau chén rượu quê nhà ( Rượu của Đại Từ SX).

Chuyến đi thật vui và ấm tình người

.

Hình hay hay

Hình 1: Các nhà bác học cho rằng, chỉ con người mới có "hệ thống tín hiệu thứ hai" nên mới biết tán dóc, tâm sự. Nay nhìn 3 chú này (hình chụp trong vườn thú ở Sítnây - Úc), tự dưng mình nghi ngờ lí luận trên.



Hình 2: hình ảnh của miền rừng núi: con bướm thì phải? Không đúng, đó là chiếc váy "cơ bản" của người Hmông.

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2009

MỘT BUỔI TRÊN TÀU

Trong anh em Trỗi có nhiều người là thủy thủ viễn dương, K7 có Đỗ Nghĩa, Vũ Anh, Lương Bình, Nhân “ti sơ”…và Gtl (Trường Giang). Chơi thân với anh em thủy thủ này nhiều năm nhưng đến hôm nay tôi chưa hề biết con tàu họ đi, nó dọc ngang thế nào.
Được tháp tùng ông bạn Gtl đi Hải Phòng nhận tàu, Nghe hắn bảo tầu mới đóng, to lắm. Thôi thì một công đôi việc, tranh thủ xem chỗ ăn ở của bạn những ngày lênh đênh trên biển nó thế nào và tìm hiểu qua về công nghiệp đóng tàu nước nhà nó ra sao(?). Thường ngày hay ngồi uống rượu với tay nhà báo “đểu’ Thắng Bình, hắn vẫn khoe Vinasin nhà nó ghê gớm lắm: đóng nhiều tàu to và hiện đại… Tôi chẳng tranh luận vì chả biết món này, chỉ “khen ngợi” thành tích về môi trường Vinasin cũng khá nổi tiếng để chọc ông ký giả già nhà mình tí chút.
Hai thằng mượn cái Fiat “còi” chạy một mạch tới nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, đến nơi đã thấy đầy đủ các thuyền viên. Họ còn trẻ , chỉ có ông bạn mình xứng danh là “lão thủy thủ ”.
Quả là Thắng Bình không nói phét tí nào, tầu lớn thật (2,2 vạn tấn) rông 26m, dài 160m và khá hiện đại. Được đi lẫn với đoàn thuyền viên lên tàu, có ông Gtl giới thiệu, tôi mới hình dung được công việc của từng thuyền viên trên con tàu viễn dương này.

Tiện nghi sinh hoạt trên con tầu thật tuyệt vời, phòng ăn, phòng câu lạc bộ và phòng ngủ đều rộng rãi khang trang như trên bờ. Mỗi người một phòng riêng, không như tôi tưởng tượng ban đầu là mấy ông chung một phòng với những chiếc giường tầng.
Phòng chỉ huy thênh thang như hội trường nhỏ, không biết Đỗ Nghĩa và mấy ông từng đi tàu thấy thế nào chứ tôi thì thật sự thấy hoành tráng.


Thuyền viên”rởm” cũng ngó nghiêng như thật

Khoang máy như một nhà xưởng 3 tầng, nơi Gtl làm việc.
Nơi ở của máy

nhất (thuộc diện xếp) ngoài phòng ngủ với đầy đủ công trình phụ còn thêm phòng làm việc và tiếp khách. Tiện nghi đầy đủ như vậy cũng thật xưng đáng với trách nhiêm của ông máy một, chỉ tiếc cái phòng làm việc không sài hết” công suất”bởi bố mày lênh đênh trên biển cả lấy đâu ra “khách” mà tiếp.

Vài ngày nữa con tàu ăn hang, ông bạn mình lại lênh đênh với sóng gió đi khắp năm Châu, cập không biết bao nhiêu bến bờ. Nhắc đến chuyện này có thể làm mấy bạn già K7 đã từng là thủy thủ nhớ nghề mà tiếc mối, biết làm sao được tuổi tác vậy làm sao mà song gió được mãi. Còn vài ông như Gtl, Nhân”ti sơ”còn sức thì cố vài năm nữa với đời” hải hồ”mà làm đôi điều có ích cho đời, cho lớp thủy thủ trẻ hôm nay.
Chúc ông bạn thủy thủ già mạnh giỏi, có những chuyến đi thuận buồm xuôi gió.Đến đâu có gì vui thì điện về chia sẻ với ae.

Khắc Việt