Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2008

Góp

Sau khi xem ảnh của bác TM và TháiK8, tôi cũng đâm ra "mê" cái loại hoa này. Tháng trước ra HN cũng cố đi tìm để "ngắm và chụp" về giới thiệu với mọi người. Tiếc là không đúng mùa nên hoa ít. Mà hình như nghe nói hoa Lộc vừng chỉ nở rộ vào buổi tối, sáng thì rụng hết, không biết có đúng không ? ( Nhân UT tặng hoa LV, tôi cũng "dưa góp" 1 tí, hình chụp "mộc" nên không đẹp bằng các bác "chiên" nghiệp ).


Lộc vừng khoe sắc thu - Tặng AK7 và những ai thích

Một người bạn cũng hay đọc các Blog Trỗi, gửi cho cái “link” của số hoa lộc vừng này và có ý “tặng” UT. Post lên để mọi người cùng "hưởng"

Bên hồ Gươm, lộc vừng nở đỏ rực mỗi chiều thu gợi lại trong mỗi người những canh cánh bên lòng về mùa thu Hà Nội. Chính tại nơi này, 2 cây lộc vừng đã làm nhiều nhà nhiếp ảnh tốn công sức để tìm ra vẻ đẹp của nó.

Nguồn:Tin tức online



Thứ Ba, 19 tháng 8, 2008

TRÁI ĐÀO TIÊN

Vào đầu 1980, lương y Lê Minh Xuân ( không phải liệt sĩ LMX ) làm một chuyến qua xứ AiLao theo lời mời của bạn. Khi thăm chùa cổ , nhà sư trụ trì trân trong giới thiệu với ông một thứ quả lạ mà họ rất quý, được coi như thần dược, công dụng trị bá bệnh và bổ dưỡng( bằng chứng là nhà chùa hiện có 4 vị cao tăng sống trên trăm tuổi).

Khi về nước ông năn nỉ xin được chiết 5 nhánh mang theo... Ô già tôi khi đó là thân chủ của lương y, lại rất thích trông trọt nên được ông cho ngay 2 nhánh ( chắc nhờ tình nghĩa với các đ/c lão thành). Cây này rất dễ trồng và mau cho trái, đó chính là cây đào tiên. Ban đầu ô già tôi ngâm rượu, quý lắm, lâu lâu mới “chiết” ra chia xẻ với AE, thế rồi các bác già nghe tin lò dò kéo đến đông hơn. Báo hại trong túi mỗi đ/c lại có cái ve không nho nhỏ ...

Nay thì sản phẩm “rượu đào tiên”, “ viên đào tiên” , “cao đào tiên” bán ti tỉ trên thị trường. Gì chứ cái chuyện dạng nước cô thành cao, bột nén lại thành viên, viên hòa thành nước ...vốn là sở trường của các bác đông dược nhà mình, “ thích thì chiều” thế thôi! Nhưng chắc các bạn chưa biết chuyện này:

Sau khi về nước được ít lâu. Một ngày nọ, lương y LMX vãn chùa ở Thủ Đức, ông thấy mấy cây đào tiên cổ thụ ở đây và bọn “tiểu yêu” đang dùng thứ trái quý của mình làm banh đá. Hóa ra cây này có ở xứ ta đã lâu, dân ta sống cạnh một đống vàng mà cóc biết. Còn tôi, tình cờ vào chợ Bà Chiểu lại phát hiện ra rằng: vào dịp rằm, người ta mang hàng gánh đào tiên lên bán ở đây cho những người đi lễ cúng chùa. Lâu lâu tôi lại mua một ít về cho ô già, giá cũng rẻ. Chỉ có điều mấy bà bán hàng thảng thốt : “ sao giờ này mà còn có người biết lo cho cửa thiền đến thế “!

TM

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2008

10 nguyên soái TQ

Để bổ sung cho bài của TQ uttroi, xin đưa ra đây danh sách 10 vị Nguyên soái TQ với các chức vụ cao nhất đã từng trải qua trong các lãnh vực (nếu đăng toàn bộ chức vụ qua từng thời kỳ thì rất dài)

Tên / Chức vụ cao nhất : Quân đội / Đảng / Chính quyền / Đoàn thể

Nhiếp Vinh Trăn (1899-1992) / TL chiến trường miền Bắc (1936-1946) / UV BCT (1960-1986) / phó Thủ tướng (19…)

Từ Hướng Tiền (1901-1990) / Tổng TMT (1949-1978) / UV BCT (1960-1986) / phó Thủ tướng (1978-1981) & Bộ trưởng QP (1978-1981)

Diệp Kiếm Anh (1897-1986) / TMT Bát lộ quân (1936-1946) / phó CT Đảng (1973-1982) / Bộ trưởng QP (1975-1978)

Lưu Bá Thừa (1892-1986) / TMT Hồng quân (1934-1935) / UV BCT (1956-1969)

Chu Đức (1886-1976) / TTL Bát lộ quân (1936-1946) / phó CT Đảng (1956-1969 và 1973-1976) / phó CT nước (1947-1959) / CT UB TV QH (1959-1976)

Bành Đức Hoài (1898-1974) / phó TTL Bát lộ quân (1946-1949) & TL Chí nguyện quân viện Triều (1950-1953) / UV BCT (1956-1969) / phó TT (1954-1959) & Bộ trưởng QP (1955-1958) / bị HVB bắt và giết (1974)

Trần Nghị (1901-1972) / TL Tân tứ quân (1931-1933) / UV BCT (1956-1969) / phó Thủ tướng (1954-1972) & bộ trưởng Ngoại giao (1958-1972) / bị HVB thanh trừng (1967)

Lâm Bưu (1907-1971) / TL QĐ số 1 (1932-1935) / phó CT Đảng (1958-1971) / phó Thủ tướng (1954-1971) & Bộ trưởng QP (1958-1971) / phó Thống soái CMVH (1969-1971)

Hạ Long (1896-1969) / TL TĐQ số 2 (1934) / UV BCT (1956-1969) / phó Thủ tướng (1954-1966) / bị HVB bắt và giết (1966-1969)

La Vinh Hoàn (1902-1963) / CN Tổng cục CT / UV BCT (1956-1963)

Tìm hiểu: Trung Quốc-Lịch sử chế độ quân hàm và 10 vị nguyên soái đầu tiên

Trong lịch sử, đến năm 1955 quân đội Trung Quốc mới thực hiện chế độ quân hàm. Và ngày 27/9/1955, Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc lần đầu tiên tổ chức lễ phong quân hàm cho 10 vị Nguyên soái đầu tiên trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Xung quanh lễ phong quân hàm nguyên soái này đã có nhiều chi tiết đáng quan tâm: Tại sao Lâm Bưu, Diệp Kiếm Anh và Lưu Bá Thừa không tham dự lễ phong quân hàm? Mao Trạch Đông thì từ chối hàm Đại nguyên soái; còn Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình không được phong hàm?….Xem tiếp

Những con người của ngày này 63 năm trước

Mời bạn cùng cụ Lê Trọng Nghĩa (bố Trọng Huấn k5, Trọng Thắng k7) sống lại những ngày này 63 năm trước!

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2008

Lửa và Rơm!

Nhân đọc bài Hoan hô “Cấy” C11 của HBĐ, tôi chợt có những “liên tưởng kỳ quặc”.
Thôi thì blog này là nơi chúng ta đã quy ước sẽ chia sẻ với nhau cả niềm vui và những nỗi buồn khi đã “về” già, tôi cũng cứ mạnh dạn bốt lên những “liên tưởng” kỳ quặc này hy vọng rằng sẽ có vài ba ý kiến chia sẻ, đồng cảm với mình!
Cái ngày góp mặt ở Trỗi ấy, chúng tôi (ta) còn bé lắm.
Tôi không sao hình dung được ngày ấy tôi bé thế nào nữa, bé về mặt vật lý ấy. Nói thế nào nhỉ? Bé tẹo tèo teo! Nhưng mà bé bằng ngần nào?
Chỉ biết rằng, mãi cho đến khi tôi vào lớp 10, tôi vưỡn chỉ nặng có 42kg, “tầm cao” của tôi chắc chỉ độ 1m45, nếu tôi nhớ không nhầm!
Những kỷ niệm ngày “thiếu sinh quân” ấy đối với tôi cứ chợt ẩn, chợt hiện, chẳng có gì rõ ràng, chẳng có gì đầy đủ, có đầu có đuôi cả.
Nếu chỉ căn cứ vào “tầm vóc” của tôi ngày ấy thì đúng là tôi thuộc đám “quân sinh thiếu” … cân thật chẳng sai!
Tôi cũng nhớ mang máng về những lần tập hợp học sinh trường Trỗi, nếu “chẳng may” mà lớp chúng tôi “phải” ngồi gần C11 thì không đứa nào không… bỏ chạy! (?)
Cho đến giờ, mỗi khi nghĩ lại chiện cũ, tôi lại thấy …hơi hơi “kỳ cục”.
Cũng dễ hiểu thôi: ngày ấy cho đến khi tôi (và HBĐ?) … dậy thì… còn…xa lắm.
Tôi cũng còn nhớ dân Trỗi ta hồi đó… anh hùng lắm!
Bằng chứng là ngày tôi còn bé tẹo tèo teo ấy, thì nhiều bạn chúng ta cũng đã “nhớn” lắm rồi và lại còn hay “uýnh nhau” nữa!
Nhưng mà nhớn “bằng ngần nào” rồi thì tôi cũng không sao hình dung ra được.
Chỉ biết rằng các bạn ấy nhớn hơn tôi, “to” hơn tôi - tuy vẫn còn bé, mà lại dám uýnh nhau nữa - thật coi cái chết cứ nhẹ tựa lông hồng, chẳng có tí kí lô nào sất - thì quả là anh hùng!
Thế chả gọi là anh hùng thì gọi là gì?
Nhưng anh hùng gì mà cứ thấy nữ là ...bỏ chạy?
Bây giờ, khi “nhớn” rồi, mỗi khi nghĩ lại chiện cũ, tôi lại không cho rằng chúng ta hồi ấy anh hùng nữa!
Tôi nghĩ hồi đó chúng ta chỉ được cái anh hùng… rơm!
Rồi thì tôi suy luôn ra lính Trỗi ta ngày ấy đều là những anh hùng…rơm!
Cứ mỗi lính Trỗi (nam) ta là một … bó Rơm!
Bất kể là nhớn hay bé, bất kể là “to” hay “nhỏ”!
Rồi thì vẫn cái đà liên tưởng này, tôi nghĩ đến các bạn nữ C11.
Đã trót khẳng định mỗi nam Trỗi ta là một bó Rơm, tôi buộc phải xem mỗi bạn nữ Trỗi ta là một cái… mồi Lửa vậy!
(Mong các bạn nữ đọc đến đây thì đại xá cho những liên tưởng kỳ quặc của tôi).
Rơm thì nhiều, mà Lửa thì ít. Có phải thế không nhỉ?
Nhưng dù Lửa có ít thì vẫn không thể chủ quan mà để gần Rơm được. Có phải thế không nhỉ?
Rồi thì đôi khi tôi lại cho rằng cái hồi bé tẹo ấy xử sự như vậy có khi lại hay: chúng ta đã sớm biết cảnh giác Lửa với Rơm?
Để đến bây giờ chúng ta còn có chiện để nhớ lại và vui với nhau?
Nói đổ xuống sông xuống biển: ngộ nhỡ ngày ấy để Lửa gần Rơm?
Chẳng biết có sao không nhỉ?
Biết bao kỷ niệm ngày xưa cứ chợt hiện chợt ẩn trong tôi, chẳng có đầu, chẳng có cuối…
Các bạn có thấy tôi suy nghĩ kỳ quặc không?

Trái gì đây?

Chào các bạn! Tôi là một cụ K3 vinh hạnh được TQ Út Trỗi mời tham gia diễn đàn sôi động này cách nay đúng 1 tuần. Tuy nhiên do chưa nghĩ ra được cách thức ra mắt sao cho phù hợp, cộng với công việc hơi bị dồn dập tuần qua nên hôm nay mới góp được bài. Mấy ngày nay, chủ đề UT xem ra có vẻ hơi nặng nề (Israeli....) hay nghiêm túc ( "Cấy" và "mì chính cánh"...) nên tôi sẽ chọn chủ đề đố vui để mọi người thư dãn chút. Phải nói trước là câu đố này chủ yếu dành cho các bạn ở Khà Khà vì với các bạn ở HCM thì có vẻ như hơi dễ đoán. Tôi vừa dự một cuộc hội thào thường niên của giới công nghệ thông tin ở Cần Thơ. Sau 1 ngày Hội thảo, tôi mua 1 Tour ngắn với hy vọng sẽ có gì đó đưa lên UT. Đây là tour thăm quan chợ nổi Cái Răng và vườn trái cây. Chợ nổi là đặc trưng của văn hóa thương mại đồng bằng sông Cửu Long. Tại chợ nổi, mỗi quầy hàng là một ghe chở hàng hóa với "bảng hiệu" là một cây sào treo những sản phẩm của mình. Tại chợ có đầy đủ các dịch vụ như một chợ trên đất liền: hớt tóc, càfe giải khát....
Chợ nổi Cái răng (Cần Thơ).
Sau khi thăm chợ nổi, chúng tôi lên một khu vườn trái cây tiêu biểu của Miền Tây. Tại đây có đủ các loại trái cây nhiệt đới : Dừa, soài, chôm chôm, măng cụt, nhãn, sầu riêng, khóm (dứa), dưa hấu, chuối....Tuy nhiên có một loại trái khá lớn và khá lạ, ngay cả với những người sống lâu năm ở miền Nam.
Trái gì đây? Để gợi ý - To như trái bưởi, xem trái lúc nhỏ ở hình dưới.

Hoa mọc thẳng trên thân cây và kết trái.
 
Mọi người biết cả rồi! Có cả tên tiếng Anh chỉ thiếu tên khoa học nữa thôi...
AMk3.

Hoan hô “Cấy” C11

Tôi không biết tỷ lệ 3 % do anh Hà chí Quang đưa ra có chính xác không? Nhưng số chị em C11 tham gia blog so với anh em ta tỷ lệ tương đối cao.
Tham gia đầu tiên, phải là chị Văn Tuyết Mai rất thường xuyên và nhiệt tình, tuy mới chỉ là những comments. Sau đó là Trương Chí Hoà, ở tận nước Đức xa xôi bạn vẫn tham gia rất hăng hái, nhưng bây giờ có lẽ bận gì đó nên không thấy xuất hiện? Tiếp theo là Hoà Bình (mèo con) tham gia thường xuyên, tích cực cả về bài viết, hình ảnh. Mọi người đã từng chiêm ngưỡng những hình ảnh “chộp” một cách rất tự nhiên của Hoà Bình. Sau Hoà Bình là Việt Hằng và Nguyễn Thị Thái. Các bạn đã mang lại nét tươi mát trong blog bằng những bài viết xúc động mà chỉ với cái nhìn của phụ nữ mới thấy được? Rồi lần lượt nào là Tưởng Bích Hà (Hải Anh), Mai Bình, Việt Liên...Các bạn còn làm cho các bạn ngoài trường như “EGK9” tham gia viết bài. Còn việc đọc "chùa" blog Trỗi chưa thể hiện ý kiến, thì tương đối nhiều.
Tôi không hiểu từ đâu lại gọi C11 là "cấy"? Rồi hồi còn ở trường lại có phong trào sợ "cấy"? Làm cho chị em C11 bị cách ly và bị “phân biệt đối xử” một thời gian dài với những trò chơi nghịch ngợm của bọn con trai tuổi học trò, mà những trò này đâu có phân biệt giới tính? làm chị em phải "phải" ra vẻ "đứng đắn" không thèm? Nghĩ lại thật “tội nghiệp”! Mãi cho đến bây giờ vào lứa tuổi U60 rồi mới được nhìn nhận một cách muộn màng, phong cho là "mì chính cánh". "Mì chính cánh" có thật chính xác chưa? so với thời buổi bây giờ mì chính không phải của hiếm nữa? Nếu không có phong trào sợ "cấy", thì có lẽ số đôi thành vợ, thành chồng của lính Trỗi không chỉ các anh chị Hữu Thành - Võ Hòa Bình, Song Yên - Thắng, Nam Vũ - Nguyễn Thị Thái ?...Thật khâm phục khi các anh chị đã vượt qua nỗi sợ "cấy" để đến với nhau!
Chúng ta không còn sợ "cấy", mà còn coi các chị, các bạn như một phần thân thiết, không thể thiếu của trường Trỗi.

Các chị, các bạn C11 ơi! đừng bỏ chúng tôi "cô đơn" nhé!

Hồ Bá Đạt

DÂN DO THÁI

Như đã nói bữa trước, hôm nay xin "trình" bài này để AE "duyệt".

Dân Hêbrơ, hay còn gọi là Do Thái, cái tên chỉ có từ Thế kỷ 1 sau khi đế quốc La Mã chinh phục được vùng đất (có tên cổ đại là Canaan) đặt tên là Juda mà theo âm Hán Việt là Do Thái, cái tên của kẻ “bán” Chúa Giêsu.

Dân Do Thái cũng là 1 trong số các bộ tộc người Ả Rập sống trải dài trên cái vùng đất sa mạc cát hoặc đồng cỏ khô cằn từ Bắc Phi cho tới giáp Ấn Độ. Cũng như mọi bộ tộc khác, ngay từ những năm 2.000 TCN, dân Do Thái đã có cuộc sống du mục truyền đời, lang thang khắp các sa mạc từ trung Á tới bắc Phi và điểm dừng chân khả dĩ nhất chỉ là vùng châu thổ sông Nil, nơi họ sẽ được người Ai Cập cho sống cuộc sống nô lệ. Bởi vậy họ kéo nhau đến Ai Cập theo từng đoàn bộ tộc lớn nhỏ khi đói rét và rời bỏ nó khi Ai Cập mất mùa hoặc cuộc sống nô lệ tiến tới quá tàn bạo. Tuy nhiên, dân Do Thái có 1 cuộc sống tinh thần đặc biệt hoàn toàn khác các bộ tộc khác. Điều đó không biết là hạnh phúc hay tai họa cho người Do Thái !

Ngay từ những năm 1.800 TCN, người Do Thái đã bắt đầu theo thứ tôn giáo thờ độc thần không như các bộ tộc khác phải tới khoảng năm 100 TCN mới có. Không những thế, từ những năm 1.200 TCN, hầu hết dân Do Thái đều theo 1 thứ tôn giáo và hầu như chỉ có họ theo thứ tôn giáo này. Thứ tôn giáo ngày nay được gọi bằng chính tên dân tộc họ : Do Thái giáo.

Đứng về lịch sử Triết học thì đây là 1 tiến bộ vượt bậc trong đời sống tinh thần của loài người. Nhưng đáng tiếc không phải là 1 cuộc cách mạng như Gia Tô giáo ra đời sau đó cả gần 2.000 năm. Lại càng đáng tiếc hơn khi toàn bộ dân Ả Rập đã “tẩy chay” những kẻ “cầm đèn chạy trước ô tô” này và đặc biệt khi những người Gia Tô giáo xuất hiện vào Thế kỷ 1 thì vì những lý do riêng (có thể là để phục vụ công cuộc cách mạng của họ ?) đã “tô điểm” cho dân Do Thái cái “tội giết Chúa (Giêsu)”. Người Do Thái đã trở thành “tội đồ” của toàn Thế giới (Châu Âu và người Ả Rập) không dân tộc nào, không mảnh đất nào chấp nhận chứa chấp họ.

Trong suốt 4.000 năm lang bạt “không mảnh dất cắm dùi”, ngoài lối sống du mục với nền kinh tế chăn nuôi, dân Do Thái không thể định cư sản xuất nông nghiệp và càng không thể phát triển công nghiệp như mọi dân khác. Cách làm kinh tế duy nhất có thể được là kinh doanh và như vậy, đồng tiền đã được người Do Thái sử dụng có hiệu quả cao nhất. Có thể đồng tiền đầu tiên đã xuất hiện ở Trung Quốc hay nơi nào đó, nhưng ngay từ ngững năm 1.200 TCN, người Do Thái đã biết sử dụng tiền làm công cụ đo lường vật chất, hàng hóa và cả việc trừng phạt / khen thưởng con người ! Họ đã trở thành dân tộc có khả năng tài chánh giỏi nhất Thế giới (chứ không phải chỉ biết cho vay nặng lãi để cướp giật sức lao động của người khác như 1 số người đã tuyên truyền).1 số ít khác bắt buộc phải sử dụng tài năng vào công việc (không cần đất) là “bán” chất xám để kiếm sống. Số lượng bác học gốc Do Thái chiếm tỷ lệ đáng nể trên Thế giới có lẽ chính là từ đây.


Sự bí ẩn của Dân Do Thái


Các thế lực chính trị từ Vua Babilon (hơn 500 năm TCN) hay Ba Tư cổ đại (của Thế kỷ thứ 6, thứ 7) đến các chính phủ sau này như Hitler và cả các nước Đồng Minh sau Thế chiến 2 đều đã hết sức sử dụng các tài năng Do Thái phục vụ cho mưu đồ của mình và sau đó đều “phủi tay” hay thậm chí tiêu diệt họ.

Song chính bản thân người Do Thái lại không làm được cho chính mình vì những “đặc tính” rất kỳ lạ của Do Thái giáo (sách “Jelimi” chương 31 tiết 33 – 36 của Kinh Do Thái). Với “đặc tính” kinh doanh ngay từ xa xưa, Đạo Do Thái cho rằng Chúa Trời đã có 1 “thỏa ước” với dân tộc họ sẽ trở thành dân tộc vượt trội hơn tất cả mọi dân tộc của loài người, tuy nhiên đó không phải là 1 “đặc ân” mà sẽ là sự “trả giá” của Chúa Trời cho họ sau rất, rất nhiều những đau khổ mà dân tộc họ phải trải qua (lý thuyết này đã được đưa ra từ hồi ông Mosses – năm 1.255 TCN !). Điểm khác biệt cơ bản ở đây là Chúa Trời đã “thỏa thuận” chớ không phải “ban phát” cho dân Do Thái bất cứ thứ gì. Đối với họ không có Thiên đàng hay Địa ngục, không có Thế giới bên kia, không có kiếp luân hồi mà chỉ có Thế giới thực tại cho tới ngày Tận thế – Ngày “thanh lý Thỏa ước” ? Phải chăng đây là 1 trong các luận điểm làm các giáo phái khác tức giận và tẩy chay họ ?


Các giáo sĩ Do Thái - những người đã "ký thỏa ước" với Chúa Trời ?


Trong quá khứ, dân Do Thái đã 2 lần nhận được sự “trả giá” này là :

Lần thứ nhất vào khoảng năm 1.200 TCN, họ đã chiếm lĩnh và thống trị vùng đất Canaan (lãnh thổ Israel ngày nay) trong suốt gần 700 năm cho tới khi bị đế quốc Babylon đánh bại và đuổi đi.

Lần thứ 2, vào năm 510, dân Do Thái đã được “hưởng ké” do 1 người Ả Rập theo đạo Do Thái, dưới sự bảo trợ của đế quốc Ba Tư đã trở thành vua thống trị toàn bộ bán đảo Ả Rập trong vòng 15 năm và sau đó bị đế quốc Byzantine tiêu diệt.

Còn ngày nay, có lẽ từ khi chính phủ Israen – hiện đang đại diện cho dân Do Thái – nhận được sự ủng hộ của nước Mỹ (nơi có dân Do Thái đông nhất trừ Israen), thì họ cho rằng đã đến lúc Chúa Trời “trả” cho chăng ? Họ đang hành động đúng như “giá trị” mà họ phải được hưởng sau chừng đó Thế kỷ đã “trả giá” ?

Xin không có lời kết vì sự việc vẫn còn tiếp diễn.



Người Do Thái trước họng súng của Phát xít Đức và người Palesti trước họng súng của lính Do Thái

Thành viên mới gia nhập

Tôi là Lê Mai Bình B6-K8-C11. Thành viên mới tinh của Út Trỗi đây. Thân mến gửi lời chào tới tất cả các bạn trường Trỗi.

Hôm qua 16/8/2008, tôi rất xúc động trước tình cảm thân thương của toàn thể các bạn K8, các bạn B6-K8 và nhất là 2 bạn Thái + Liên đã tới chia buồn và thắp nén hương tại bàn thờ bố chồng của tôi.

Thay mặt gia đình tôi xin chân thành cảm ơn các bạn.

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2008

Tin chia buồn!

Được sự ủy thác của Ban liên lạc K8 và B6-K8, sáng nay Liên và Thái đã đến nhà Lê Mai Bình - 230 đường Lê Trọng Tấn để thắp hương tại bàn thờ bố chồng Mai Bình. Cụ mất ngày 4 tháng 8 nhưng do ở xa nên Mai Bình không thông báo cho bạn bè đến phúng viếng. Xin báo cáo: hai bạn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Thông tin ngoài lề: Bạn Việt Liên mang đến một quả mít na (từ vườn nhà) ngon cực. Thái đã tích góp số hạt với dự định nhân giống mít quý. Nếu ai hâm mộ món mít na xin đăng ký cây con từ khi còn là hột kẻo hết, loa loa!

Bổ túc: Tăng tốc toàn diện kết nối Internet

TP - Tốc độ kết nối Internet, ngoài việc phụ thuộc vào gói cước dịch vụ mà nhà cung cấp đưa ra, nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà đôi khi từ chính chiếc máy tính mà bạn sử dụng. Trước khi bạn bỏ thêm tiền để nâng gói cước dịch vụ Internet lên mức cao hơn, thì hãy tự mình cải thiện tình hình bằng những cách thức sau đây Xem tiếp

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2008

Lượm lặt: AK47 - Những điều ít được biết tới

Trong nền công nghiệp vũ khí thế kỷ XX, súng AK được tôn vinh như một kiệt tác. Người thiết kế chế tạo ra nó năm 1947 là một chuyên gia trẻ người Nga, lúc đó còn ít được ai biết tới: Mikhail Kalashnikov. Súng AK (Avtomat Kalashnikova) đã trở thành sự nghiệp lớn nhất của đời ông, giúp ông về sau lên tới Trung tướng, hai lần được phong danh hiệu Anh hùng Lao động, giải thưởng Stalin (năm 1949)…Xem tiếp

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2008

"Đêm kỳ ảo Trung Hoa"

Xem người lại nghĩ đến ta

Cuốn cổ thư mở ra và mở ra mãi mãi. Hay có thể gọi đó là sách. Sách mở ra và mở ra mãi mãi. Người Trung Hoa mà đại diện ưu tú của họ là đạo diễn Trương Nghệ Mưu đã gửi tới toàn thế giới một thông điệp. Nội dung bản thông điệp đó là: Sách (văn hóa) là nền tảng duy nhất dẫn đường cho nhân loại. Cảnh đốt ngọn lửa Olympic Bắc Kinh thật giản dị nhưng thật kỳ vĩ. Một vận động viên cầm ngọn đuốc chạy dưới mặt trời. Vận động viên kia là một con người nhưng đó cũng là toàn bộ nhân loại. Cuốn cổ thư (sách) mở ra và dẫn đường cho nhân loại. Không có văn hóa, con người không tìm được lối đi, không tới được ánh sáng. Dân tộc Trung Hoa cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới đã phải đi qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Nhưng cái duy nhất có ý nghĩa còn lại với thế gian này chỉ là văn hóa. Chính vì thế mà Trương Nghệ Mưu thay mặt dân tộc Trung Hoa nói với thế giới về dân tộc mình là nói về nền văn hóa vĩ đại và đặc sắc của họ. Một sỗ hình ảnh trong đêm khai Olympic Bắc Kinh 2008 Trên nền tảng là cuốn cổ thư (văn hóa) những điều kỳ vĩ của nhân loại được sinh ra. Chúng ta không tìm thấy ở đó sự hận thù, không tìm thấy ở đó những cuộc chinh chiến, không tìm thấy ở đó máu chảy, không tìm thấy ở đó người thắng kẻ thua…Chúng ta chỉ tìm thấy ở đó sự kỳ vĩ của trí tuệ con người và chủ nghĩa nhân văn cao cả. Tôi không còn cách nào khác là gọi đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh là "Đêm kỳ ảo Trung Hoa". Với tư duy ấy và với tư tưởng ấy, dân tộc Trung Hoa sẽ làm được những điều trong tương lai mà chúng ta không tưởng tượng hết được. Sau những giây phút kinh ngạc, xúc động và kính phục đối với đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh, tôi bắt đầu nghĩ về dân tộc mình với một việc rất cụ thể: lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long sắp tới của chúng ta. Tôi có cơ sở để tin rằng chúng ta sẽ không làm được một lễ khai mạc cho kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đúng với tầm cỡ và ý nghĩa của sự kiện trọng đại này. Chúng ta phải thừa nhận mình còn rất kém cỏi và vụng về. Trong nhiều năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều đêm khai mạc các lễ hội diễn ra trong nước và chúng ta thất vọng. Tôi luôn luôn cảm thấy các đạo diễn hay tổng đạo diễn của những đêm khai mạc lễ hội hay đêm khai mạc các sự kiện lớn diễn ra trên đất nước ta rất lúng túng và không biết phải làm gì. Những đêm khai mạc như thế, chúng ta luôn luôn bị rơi vào một trong hai “bi kịch” chính sau đây: Một: Biến đêm khai mạc thành một sân khấu hội diễn quần chúng. Chúng ta thường cho diễn viên đóng những Anh hùng dân tộc đi đi lại lại, nói nói cười cười. Chúng ta tưởng như thế là tôn vinh các Anh hùng dân tộc. Nhưng hiệu quả hầu như ngược lại. Rồi xen vào đó là những màn minh họa các thời kỳ xây dựng, lao động và chiến đấu của địa phương đó hoặc là của cả dân tộc. Có những đêm khai mạc như thế còn kèm theo một lời bình dài như không thể kết thúc. Người viết lời bình như sợ tất cả những ai theo dõi không hiểu được cái gì đang diễn ra trước mắt họ nên viết như tường thuật vụ án. Đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh hầu như không có một lời bình nào. Nhưng người Trung Hoa đã nói tất cả những gì cần nói về dân tộc họ và về thế giới này một cách giản dị nhưng vô cùng sâu sắc và kỳ vĩ. Hai: Biến đêm khai mạc thành một cuộc tiểu diễu hành. Những lễ khai mạc như thế làm cho những người thường xuyên phải đi dự sợ đến “bạc tóc”. Cuộc nào cũng giống cuộc nào. Một trong những màn diễn sáo mòn và gây mệt mỏi nhất là màn biểu diễn trống. Nếu chỉ một lần và ở một lúc nào đó thì được. Nhưng lần nào cũng thấy trống. Cứ như là chỉ người Việt Nam là nơi sản sinh ra trống và duy nhất biết đánh trống. Rồi nơi nào thuộc vùng biển thì phải có thuyền có cá, nơi nào vùng núi thì phải có cồng chiêng hay rượu cần. Rồi thì nông dân xuất hiện, công nhân xuất hiện, bộ đội xuất hiện, công an xuất hiện, trí thức xuất hiện, văn nghệ sỹ xuất hiện…nghĩa là có lực lượng nào thì lực lượng đó phải xuất hiện. Chẳng lẽ Trung Quốc hay tất cả những nước khác không có những lực lượng kia và những nghề kia mà chỉ Việt Nam có? Tôi biết khi chuẩn bị cho Seagames tổ chức ở Việt Nam, người ta muốn có một slogan cho Ngày hội thể thao lớn nhất khu vực. Một giáo sư Malaysia, người vốn là kiến trúc sư trưởng của lễ khai mạc Seagames tổ chức ở đất nước này đã đến Việt Nam và được hỏi về nội dung slogan đó đã viết hai chữ tiếng Anh: WE CAN (chúng tôi có thể). Lúc đó, thế giới và đặc biệt là khu vực đang muốn biết Việt Nam có khả năng tổ chức các sự kiện lớn của khu vực hay không. Nhưng người ta đã không chấp nhận hai chữ đó. Cuối cùng họ quyết định một slogan dài dằng dặc với đủ các nội dung mà đến giờ không ai nhớ nổi. Nếu với tư duy như vậy thì đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh sẽ phải diễn ra khoảng 40 giờ mới gọi là tạm đủ. Bởi họ phải cho thế giới thấy Đường Tăng đi Tây Trúc lấy kinh, thấy Tần Thủy Hoàng chống lại hung nô và xây Vạn Lý trường thành, thấy Khổng tử viết sách, thấy Kinh Kha hành thích Tần Vương, thấy Lý Bạch làm thơ, thấy Triều đại Thịnh Đường, thấy sự kỳ diệu của gốm sứ Trung Hoa, thấy Hoa Đà bốc thuốc, thấy La Quán Trung viết Tam Quốc diễn nghĩa, thấy Lỗ Tấn viết AQ chính truyện, thấy người Trung Quốc chống Nhật, thấy cuộc cách mạng bốn hiện đại hóa, thấy cách mạng văn hóa, thấy việc tiễu trừ bè lũ bốn tên, thấy Mao Trạch Đông cầm trước tác bìa đỏ giơ lên vẫy mọi người, thấy các dân tộc đặc sắc của Trung Quốc múa điệu múa của mình, thấy gấu trúc, thấy việc phóng con tàu vũ trụ, thấy quân đội hùng mạnh và hiện đại…. Chắc chắn Hà Nội sẽ bỏ ra không ít tiền cho lễ khai mạc kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Mà bỏ tiền cho sự kiện ấy là rất xứng đáng. Một trận đấu với độ tuyển Olympic Brazil mà chúng ta còn dám bỏ ra mười tỷ cơ mà. Biết đâu cụ Lý Công Uẩn lại được một diễn viên Chèo ăn mặc xanh đỏ bước ra chào mọi người và đọc Chiếu dời đô. Biết đâu những gì thuộc văn hóa và lịch sử của Hà Tây giờ đã thuộc Hà Nội cũng phải được xuất hiện. Thế thì phải có cuộc chiến của Sơn Tinh chống Thủy Tinh. Thế thì phải có cuộc diễu hành của các làng nghề hà Tây. Thế thì phải có lụa Hà Đông phấp phới bay. Biết đâu chẳng có cảnh các chiến sỹ ôm bom ba càng lao vào xe tăng Pháp. Biết đâu lại chẳng có những đoàn quân tiến về Hà Nội năm 1954. Biết đâu lại chẳng có 12 ngày đêm chiến thắng B52 Mỹ vv… Tôi nói vậy vì tôi thấy chúng ta đã và đang làm như vậy. Đấy là cách tư duy của chúng ta, một lối tư duy cũ mèm và rất bảo thủ. Sẽ có người nói tại sao tôi lại so sánh Việt Nam với Trung Quốc. Nước họ đông người lắm của thì họ làm được thế. Chúng ta còn nghèo thì “liệu cơm gắp mắm” chứ. Nói vậy là ngụy biện. Việc nào đáng tiêu tiền thì tiêu không tiếc. Nhưng chúng ta đã tiêu quá nhiều tiền cho những việc không đáng và tiêu quá nhiều tiền cho những việc nhạt nhẽo. Trong bài viết này, tôi không so sánh số tiền đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh bỏ ra và không so sánh tầm cỡ của sự kiện đó, tôi chỉ nói về lối tư duy của chúng ta. Tôi chỉ xin lấy một ví dụ nhỏ: chúng ta có rất nhiều thị xã, thế là mỗi một thị xã trở thành thành phố chúng ta lại đổ tiền vào để làm lễ lên thành phố. Tôi không thể nào tìm được cho dù chỉ một lý do để lý giải việc truyền hình trực tiếp lễ ăn mừng thị xã lên thành phố là thiết thực, là ý nghĩa. Và chương trình truyền hình trực tiếp thị xã lên thành phố là chương trình truyền hình nhạt nhất trên thế giới. Để làm tất cả những gì liên quan đến việc thị xã lên thành phố người ta phải bỏ ra không ít tiền. Trong khi đó, ở cái thị xã ấy không có được một khu vui chơi cho trẻ con ra hồn, không có được một cái nhà văn hóa ra hồn… Hãy rũ bỏ ngay quan niệm dân tộc nào đông người và lắm tiền mới làm được những việc hay và những điều có ý nghĩa. Đâu cứ phải nơi đông người thì văn hóa hơn chốn ít người. Tất cả phụ thuộc vào trí tuệ, óc sáng tạo, tình yêu và lòng tự trọng dân tộc ở trong mỗi con người công dân của dân tộc ấy. Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là một sự kiện trọng đại không chỉ của người Hà Nội mà là của người dân trong cả nước. Không biết những người tổ chức sự kiện trọng đại này đã có một kịch bản kỹ lưỡng cho toàn bộ những ngày kỷ niệm 1000 năm Thăng long nói chung và đêm khai mạc của lễ kỷ niệm này chưa? Xin ai đó làm kịch bản cho đêm khai mạc đó đừng nghĩ đến màn đánh trống, đừng nghĩ đến việc chọn một diễn viên Chèo hay Tuồng sắm vai Lý Công Uẩn tham gia diễu hành, đừng tái hiện cảnh chiến đấu chống B52, đừng bắt các lực lượng nhân dân Thủ đô xuất hiện đầy đủ với lời thuyết minh là một bản thống kê thành tích dài hơn cả chiều dài sông Hồng… Hãy nghĩ đến nền tảng văn hóa của Thăng Long và hãy để con người Việt Nam bay lên lộng lẫy và huyền ảo với những giấc mơ vĩnh hằng của họ từ mảnh đất thiêng liêng và huyền ảo này. Đêm khai mạc lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long cho dù chúng ta làm ở quy mô hay hình thức nào cũng sẽ cho thấy khả năng tư duy, khả năng sáng tạo và giấc mơ mang tính nhân loại của dân tộc chúng ta. Tôi là một trong hàng triệu người Việt Nam đợi chờ ngày ấy. Và tôi cũng như hàng triệu người Việt Nam mang một nỗi lo về ngày ấy. Bởi hiện thực của những gì chúng tôi đã chứng kiến trong quá khứ không làm cho chúng tôi tự tin.
Theo Hạnh Nguyên


-------------------------------------

Chú em Dương Tiến Thắng, "K9" của Quang "xèng", Tôn Gia Quý k4, Võ Hùng k8 từ Leipzig gửi bài này về xin đăng lại trên Uttroi. Cũng là 1 trăn trở. Cảm ơn em!

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2008

BỔ SUNG ẢNH ĐẠI TỪ

Phóng viên "xịn" đã ghi lại được nhiều hình ảnh của đoàn K4 trong chuyến đi này. Còn phóng viên "rổm" cũng tranh thủ chộp được một vài moment rất ấn tượng của phóng viên "xịn", xin mời ACE thưởng thức.
Hình 1: TQ nghiệm thu quà của anh Từ Ngữ.




Hình 2: Mít Đại Từ











Hình 3: nhờ ACE đặt tên cho hình này!

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2008

Một số hình ảnh về Đại từ

Hôm nay K4 đã tổ chức chuyến đi về lại Yên Mỹ, Đại từ và trao tặng số sách giáo khoa cho các cháu học sinh nghèo của xã. Kết hợp, cũng là có dịp quay lại thăm nơi trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi đã từng sống và học tập tại nơi đây. Kịp ghi được một số hình ảnh để ACE nhớ về Đại từ.

Từ Mỹ yên nhìn vào Tam đảo


Ơn thày



Được sống lại tuổi thơ



Về với thiên nhiên


Đọc thêm tin tại đây

MƯỢN ĐƯỜNG TRUYỀN

-@HB: Cố gắng phấn đấu trồng được " quả kiểng" như họ.






































-@ Bé Nhí: Có mấy con két cho cháu đây. Hôm nọ bác suýt bị cái tàu bay này nó lao vào người đấy!



























-

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2008

Tin buồn

Bố vợ Nguyễn Tiến Long K8, vừa mất sáng nay 11/8/2008 tại Hà nội.
Tang lễ được tổ chức ngày thứ Tư 13/8/2008
Lễ viếng bắt đầu từ 8h30 đến 9h00 cùng ngày
Địa điểm: Nhà tang lễ Bệnh viện Bạch mai, Hà nội
BLL K8 HN kính báo.

Có một dân tộc như thế!

Có một dân tộc đã phải chịu số phận đau thương tủi nhục hàng ngàn năm như thế. (Phần 2Phần 3)
Có một dân tộc biết vượt lên số phận để có được ngày hôm nay như thế!
Không biết mọi người đã đọc chưa và có thích hợp với blog của uttroi không nữa, tôi cứ pot lên đây để bạn nào quan tâm thì tìm hiểu.
Mong những bạn không thích đánh cho chữ đại xá.