Sau khi xem ảnh của bác TM và TháiK8, tôi cũng đâm ra "mê" cái loại hoa này. Tháng trước ra HN cũng cố đi tìm để "ngắm và chụp" về giới thiệu với mọi người. Tiếc là không đúng mùa nên hoa ít. Mà hình như nghe nói hoa Lộc vừng chỉ nở rộ vào buổi tối, sáng thì rụng hết, không biết có đúng không ? ( Nhân UT tặng hoa LV, tôi cũng "dưa góp" 1 tí, hình chụp "mộc" nên không đẹp bằng các bác "chiên" nghiệp ).Thứ Tư, 20 tháng 8, 2008
Góp
Sau khi xem ảnh của bác TM và TháiK8, tôi cũng đâm ra "mê" cái loại hoa này. Tháng trước ra HN cũng cố đi tìm để "ngắm và chụp" về giới thiệu với mọi người. Tiếc là không đúng mùa nên hoa ít. Mà hình như nghe nói hoa Lộc vừng chỉ nở rộ vào buổi tối, sáng thì rụng hết, không biết có đúng không ? ( Nhân UT tặng hoa LV, tôi cũng "dưa góp" 1 tí, hình chụp "mộc" nên không đẹp bằng các bác "chiên" nghiệp ).Lộc vừng khoe sắc thu - Tặng AK7 và những ai thích
Một người bạn cũng hay đọc các Blog Trỗi, gửi cho cái “link” của số hoa lộc vừng này và có ý “tặng” UT. Post lên để mọi người cùng "hưởng"
Bên hồ Gươm, lộc vừng nở đỏ rực mỗi chiều thu gợi lại trong mỗi người những canh cánh bên lòng về mùa thu Hà Nội. Chính tại nơi này, 2 cây lộc vừng đã làm nhiều nhà nhiếp ảnh tốn công sức để tìm ra vẻ đẹp của nó.
Nguồn:Tin tức online
Thứ Ba, 19 tháng 8, 2008
TRÁI ĐÀO TIÊN
Vào đầu 1980, lương y Lê Minh Xuân ( không phải liệt sĩ LMX ) làm một chuyến qua xứ AiLao theo lời mời của bạn. Khi thăm chùa cổ , nhà sư trụ trì trân trong giới thiệu với ông một thứ quả lạ mà họ rất quý, được coi như thần dược, công dụng trị bá bệnh và bổ dưỡng( bằng chứng là nhà chùa hiện có 4 vị cao tăng sống trên trăm tuổi).
Khi về nước ông năn nỉ xin được chiết 5 nhánh mang theo... Ô già tôi khi đó là thân chủ của lương y, lại rất thích trông trọt nên được ông cho ngay 2 nhánh ( chắc nhờ tình nghĩa với các đ/c lão thành). Cây này rất dễ trồng và mau cho trái, đó chính là cây đào tiên. Ban đầu ô già tôi ngâm rượu, quý lắm, lâu lâu mới “chiết” ra chia xẻ với AE, thế rồi các bác già nghe tin lò dò kéo đến đông hơn. Báo hại trong túi mỗi đ/c lại có cái ve không nho nhỏ ...
Nay thì sản phẩm “rượu đào tiên”, “ viên đào tiên” , “cao đào tiên” bán ti tỉ trên thị trường. Gì chứ cái chuyện dạng nước cô thành cao, bột nén lại thành viên, viên hòa thành nước ...vốn là sở trường của các bác đông dược nhà mình, “ thích thì chiều” thế thôi! Nhưng chắc các bạn chưa biết chuyện này:
Sau khi về nước được ít lâu. Một ngày nọ, lương y LMX vãn chùa ở Thủ Đức, ông thấy mấy cây đào tiên cổ thụ ở đây và bọn “tiểu yêu” đang dùng thứ trái quý của mình làm banh đá. Hóa ra cây này có ở xứ ta đã lâu, dân ta sống cạnh một đống vàng mà cóc biết. Còn tôi, tình cờ vào chợ Bà Chiểu lại phát hiện ra rằng: vào dịp rằm, người ta mang hàng gánh đào tiên lên bán ở đây cho những người đi lễ cúng chùa. Lâu lâu tôi lại mua một ít về cho ô già, giá cũng rẻ. Chỉ có điều mấy bà bán hàng thảng thốt : “ sao giờ này mà còn có người biết lo cho cửa thiền đến thế “!
TM
Thứ Hai, 18 tháng 8, 2008
10 nguyên soái TQ
Để bổ sung cho bài của TQ uttroi, xin đưa ra đây danh sách 10 vị Nguyên soái TQ với các chức vụ cao nhất đã từng trải qua trong các lãnh vực (nếu đăng toàn bộ chức vụ qua từng thời kỳ thì rất dài)
Nhiếp Vinh Trăn (1899-1992) / TL chiến trường miền Bắc (1936-1946) / UV BCT (1960-1986) / phó Thủ tướng (19…)
Từ Hướng Tiền (1901-1990) / Tổng TMT (1949-1978) / UV BCT (1960-1986) / phó Thủ tướng (1978-1981) & Bộ trưởng QP (1978-1981)
Diệp Kiếm Anh (1897-1986) / TMT Bát lộ quân (1936-1946) / phó CT Đảng (1973-1982) / Bộ trưởng QP (1975-1978)
Lưu Bá Thừa (1892-1986) / TMT Hồng quân (1934-1935) / UV BCT (1956-1969)
Chu Đức (1886-1976) / TTL Bát lộ quân (1936-1946) / phó CT Đảng (1956-1969 và 1973-1976) / phó CT nước (1947-1959) / CT UB TV QH (1959-1976)
Bành Đức Hoài (1898-1974) / phó TTL Bát lộ quân (1946-1949) & TL Chí nguyện quân viện Triều (1950-1953) / UV BCT (1956-1969) / phó TT (1954-1959) & Bộ trưởng QP (1955-1958) / bị HVB bắt và giết (1974)
Trần Nghị (1901-1972) / TL Tân tứ quân (1931-1933) / UV BCT (1956-1969) / phó Thủ tướng (1954-1972) & bộ trưởng Ngoại giao (1958-1972) / bị HVB thanh trừng (1967)
Lâm Bưu (1907-1971) / TL QĐ số 1 (1932-1935) / phó CT Đảng (1958-1971) / phó Thủ tướng (1954-1971) & Bộ trưởng QP (1958-1971) / phó Thống soái CMVH (1969-1971)
Hạ Long (1896-1969) / TL TĐQ số 2 (1934) / UV BCT (1956-1969) / phó Thủ tướng (1954-1966) / bị HVB bắt và giết (1966-1969)
La Vinh Hoàn (1902-1963) / CN Tổng cục CT / UV BCT (1956-1963)
Tìm hiểu: Trung Quốc-Lịch sử chế độ quân hàm và 10 vị nguyên soái đầu tiên
Xung quanh lễ phong quân hàm nguyên soái này đã có nhiều chi tiết đáng quan tâm: Tại sao Lâm Bưu, Diệp Kiếm Anh và Lưu Bá Thừa không tham dự lễ phong quân hàm? Mao Trạch Đông thì từ chối hàm Đại nguyên soái; còn 
Những con người của ngày này 63 năm trước

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2008
Lửa và Rơm!
Nhân đọc bài Hoan hô “Cấy” C11 của HBĐ, tôi chợt có những “liên tưởng kỳ quặc”.
Thôi thì blog này là nơi chúng ta đã quy ước sẽ chia sẻ với nhau cả niềm vui và những nỗi buồn khi đã “về” già, tôi cũng cứ mạnh dạn bốt lên những “liên tưởng” kỳ quặc này hy vọng rằng sẽ có vài ba ý kiến chia sẻ, đồng cảm với mình!
Cái ngày góp mặt ở Trỗi ấy, chúng tôi (ta) còn bé lắm.
Tôi không sao hình dung được ngày ấy tôi bé thế nào nữa, bé về mặt vật lý ấy. Nói thế nào nhỉ? Bé tẹo tèo teo! Nhưng mà bé bằng ngần nào?
Chỉ biết rằng, mãi cho đến khi tôi vào lớp 10, tôi vưỡn chỉ nặng có 42kg, “tầm cao” của tôi chắc chỉ độ 1m45, nếu tôi nhớ không nhầm!
Những kỷ niệm ngày “thiếu sinh quân” ấy đối với tôi cứ chợt ẩn, chợt hiện, chẳng có gì rõ ràng, chẳng có gì đầy đủ, có đầu có đuôi cả.
Nếu chỉ căn cứ vào “tầm vóc” của tôi ngày ấy thì đúng là tôi thuộc đám “quân sinh thiếu” … cân thật chẳng sai!
Tôi cũng nhớ mang máng về những lần tập hợp học sinh trường Trỗi, nếu “chẳng may” mà lớp chúng tôi “phải” ngồi gần C11 thì không đứa nào không… bỏ chạy! (?)
Cho đến giờ, mỗi khi nghĩ lại chiện cũ, tôi lại thấy …hơi hơi “kỳ cục”.
Cũng dễ hiểu thôi: ngày ấy cho đến khi tôi (và HBĐ?) … dậy thì… còn…xa lắm.
Tôi cũng còn nhớ dân Trỗi ta hồi đó… anh hùng lắm!
Bằng chứng là ngày tôi còn bé tẹo tèo teo ấy, thì nhiều bạn chúng ta cũng đã “nhớn” lắm rồi và lại còn hay “uýnh nhau” nữa!
Nhưng mà nhớn “bằng ngần nào” rồi thì tôi cũng không sao hình dung ra được.
Chỉ biết rằng các bạn ấy nhớn hơn tôi, “to” hơn tôi - tuy vẫn còn bé, mà lại dám uýnh nhau nữa - thật coi cái chết cứ nhẹ tựa lông hồng, chẳng có tí kí lô nào sất - thì quả là anh hùng!
Thế chả gọi là anh hùng thì gọi là gì?
Nhưng anh hùng gì mà cứ thấy nữ là ...bỏ chạy?
Bây giờ, khi “nhớn” rồi, mỗi khi nghĩ lại chiện cũ, tôi lại không cho rằng chúng ta hồi ấy anh hùng nữa!
Tôi nghĩ hồi đó chúng ta chỉ được cái anh hùng… rơm!
Rồi thì tôi suy luôn ra lính Trỗi ta ngày ấy đều là những anh hùng…rơm!
Cứ mỗi lính Trỗi (nam) ta là một … bó Rơm!
Bất kể là nhớn hay bé, bất kể là “to” hay “nhỏ”!
Rồi thì vẫn cái đà liên tưởng này, tôi nghĩ đến các bạn nữ C11.
Đã trót khẳng định mỗi nam Trỗi ta là một bó Rơm, tôi buộc phải xem mỗi bạn nữ Trỗi ta là một cái… mồi Lửa vậy!
(Mong các bạn nữ đọc đến đây thì đại xá cho những liên tưởng kỳ quặc của tôi).
Rơm thì nhiều, mà Lửa thì ít. Có phải thế không nhỉ?
Nhưng dù Lửa có ít thì vẫn không thể chủ quan mà để gần Rơm được. Có phải thế không nhỉ?
Rồi thì đôi khi tôi lại cho rằng cái hồi bé tẹo ấy xử sự như vậy có khi lại hay: chúng ta đã sớm biết cảnh giác Lửa với Rơm?
Để đến bây giờ chúng ta còn có chiện để nhớ lại và vui với nhau?
Nói đổ xuống sông xuống biển: ngộ nhỡ ngày ấy để Lửa gần Rơm?
Chẳng biết có sao không nhỉ?
Biết bao kỷ niệm ngày xưa cứ chợt hiện chợt ẩn trong tôi, chẳng có đầu, chẳng có cuối…
Các bạn có thấy tôi suy nghĩ kỳ quặc không?
Trái gì đây?
Hoan hô “Cấy” C11
Tôi không biết tỷ lệ 3 % do anh Hà chí Quang đưa ra có chính xác không? Nhưng số chị em C11 tham gia blog so với anh em ta tỷ lệ tương đối cao.
Tham gia đầu tiên, phải là chị Văn Tuyết Mai rất thường xuyên và nhiệt tình, tuy mới chỉ là những comments. Sau đó là Trương Chí Hoà, ở tận nước Đức xa xôi bạn vẫn tham gia rất hăng hái, nhưng bây giờ có lẽ bận gì đó nên không thấy xuất hiện? Tiếp theo là Hoà Bình (mèo con) tham gia thường xuyên, tích cực cả về bài viết, hình ảnh. Mọi người đã từng chiêm ngưỡng những hình ảnh “chộp” một cách rất tự nhiên của Hoà Bình. Sau Hoà Bình là Việt Hằng và Nguyễn Thị Thái. Các bạn đã mang lại nét tươi mát trong blog bằng những bài viết xúc động mà chỉ với cái nhìn của phụ nữ mới thấy được? Rồi lần lượt nào là Tưởng Bích Hà (Hải Anh), Mai Bình, Việt Liên...Các bạn còn làm cho các bạn ngoài trường như “EGK9” tham gia viết bài. Còn việc đọc "chùa" blog Trỗi chưa thể hiện ý kiến, thì tương đối nhiều.
Tôi không hiểu từ đâu lại gọi C11 là "cấy"? Rồi hồi còn ở trường lại có phong trào sợ "cấy"? Làm cho chị em C11 bị cách ly và bị “phân biệt đối xử” một thời gian dài với những trò chơi nghịch ngợm của bọn con trai tuổi học trò, mà những trò này đâu có phân biệt giới tính? làm chị em phải "phải" ra vẻ "đứng đắn" không thèm? Nghĩ lại thật “tội nghiệp”! Mãi cho đến bây giờ vào lứa tuổi U60 rồi mới được nhìn nhận một cách muộn màng, phong cho là "mì chính cánh". "Mì chính cánh" có thật chính xác chưa? so với thời buổi bây giờ mì chính không phải của hiếm nữa? Nếu không có phong trào sợ "cấy", thì có lẽ số đôi thành vợ, thành chồng của lính Trỗi không chỉ các anh chị Hữu Thành - Võ Hòa Bình, Song Yên - Thắng, Nam Vũ - Nguyễn Thị Thái ?...Thật khâm phục khi các anh chị đã vượt qua nỗi sợ "cấy" để đến với nhau!
Chúng ta không còn sợ "cấy", mà còn coi các chị, các bạn như một phần thân thiết, không thể thiếu của trường Trỗi.
Các chị, các bạn C11 ơi! đừng bỏ chúng tôi "cô đơn" nhé!
DÂN DO THÁI
Dân Hêbrơ, hay còn gọi là Do Thái, cái tên chỉ có từ Thế kỷ 1 sau khi đế quốc La Mã chinh phục được vùng đất (có tên cổ đại là Canaan) đặt tên là Juda mà theo âm Hán Việt là Do Thái, cái tên của kẻ “bán” Chúa Giêsu.
Dân Do Thái cũng là 1 trong số các bộ tộc người Ả Rập sống trải dài trên cái vùng đất sa mạc cát hoặc đồng cỏ khô cằn từ Bắc Phi cho tới giáp Ấn Độ. Cũng như mọi bộ tộc khác, ngay từ những năm 2.000 TCN, dân Do Thái đã có cuộc sống du mục truyền đời, lang thang khắp các sa mạc từ trung Á tới bắc Phi và điểm dừng chân khả dĩ nhất chỉ là vùng châu thổ sông Nil, nơi họ sẽ được người Ai Cập cho sống cuộc sống nô lệ. Bởi vậy họ kéo nhau đến Ai Cập theo từng đoàn bộ tộc lớn nhỏ khi đói rét và rời bỏ nó khi Ai Cập mất mùa hoặc cuộc sống nô lệ tiến tới quá tàn bạo. Tuy nhiên, dân Do Thái có 1 cuộc sống tinh thần đặc biệt hoàn toàn khác các bộ tộc khác. Điều đó không biết là hạnh phúc hay tai họa cho người Do Thái !
Ngay từ những năm 1.800 TCN, người Do Thái đã bắt đầu theo thứ tôn giáo thờ độc thần không như các bộ tộc khác phải tới khoảng năm 100 TCN mới có. Không những thế, từ những năm 1.200 TCN, hầu hết dân Do Thái đều theo 1 thứ tôn giáo và hầu như chỉ có họ theo thứ tôn giáo này. Thứ tôn giáo ngày nay được gọi bằng chính tên dân tộc họ : Do Thái giáo.
Đứng về lịch sử Triết học thì đây là 1 tiến bộ vượt bậc trong đời sống tinh thần của loài người. Nhưng đáng tiếc không phải là 1 cuộc cách mạng như Gia Tô giáo ra đời sau đó cả gần 2.000 năm. Lại càng đáng tiếc hơn khi toàn bộ dân Ả Rập đã “tẩy chay” những kẻ “cầm đèn chạy trước ô tô” này và đặc biệt khi những người Gia Tô giáo xuất hiện vào Thế kỷ 1 thì vì những lý do riêng (có thể là để phục vụ công cuộc cách mạng của họ ?) đã “tô điểm” cho dân Do Thái cái “tội giết Chúa (Giêsu)”. Người Do Thái đã trở thành “tội đồ” của toàn Thế giới (Châu Âu và người Ả Rập) không dân tộc nào, không mảnh đất nào chấp nhận chứa chấp họ.
Trong suốt 4.000 năm lang bạt “không mảnh dất cắm dùi”, ngoài lối sống du mục với nền kinh tế chăn nuôi, dân Do Thái không thể định cư sản xuất nông nghiệp và càng không thể phát triển công nghiệp như mọi dân khác. Cách làm kinh tế duy nhất có thể được là kinh doanh và như vậy, đồng tiền đã được người Do Thái sử dụng có hiệu quả cao nhất. Có thể đồng tiền đầu tiên đã xuất hiện ở Trung Quốc hay nơi nào đó, nhưng ngay từ ngững năm 1.200 TCN, người Do Thái đã biết sử dụng tiền làm công cụ đo lường vật chất, hàng hóa và cả việc trừng phạt / khen thưởng con người ! Họ đã trở thành dân tộc có khả năng tài chánh giỏi nhất Thế giới (chứ không phải chỉ biết cho vay nặng lãi để cướp giật sức lao động của người khác như 1 số người đã tuyên truyền).1 số ít khác bắt buộc phải sử dụng tài năng vào công việc (không cần đất) là “bán” chất xám để kiếm sống. Số lượng bác
học gốc Do Thái chiếm tỷ lệ đáng nể trên Thế giới có lẽ chính là từ đây.
Sự bí ẩn của Dân Do Thái
Các thế lực chính trị từ Vua Babilon (hơn 500 năm TCN) hay Ba Tư cổ đại (của Thế kỷ thứ 6, thứ 7) đến các chính phủ sau này như Hitler và cả các nước Đồng Minh sau Thế chiến 2 đều đã hết sức sử dụng các tài năng Do Thái phục vụ cho mưu đồ của mình và sau đó đều “phủi tay” hay thậm chí tiêu diệt họ.
Song chính bản thân người Do Thái lại không làm được cho chính mình vì những “đặc tính” rất kỳ lạ của Do Thái giáo (sách “Jelimi” chương 31 tiết 33 – 36 của Kinh Do Thái). Với “đặc tính” kinh doanh ngay từ xa xưa, Đạo Do Thái cho rằng Chúa Trời đã có 1 “thỏa ước” với dân tộc họ sẽ trở thành dân tộc vượt trội hơn tất cả mọi dân tộc của loài người, tuy nhiên đó không phải là 1 “đặc ân” mà sẽ là sự “trả giá” của Chúa Trời cho họ sau rất, rất nhiều những đau khổ mà dân tộc họ phải trải qua (lý thuyết này đã được đưa ra từ hồi ông Mosses – năm 1.255 TCN !). Điểm khác biệt cơ bản ở đây là Chúa Trời đã “thỏa thuận” chớ không phải “ban
phát” cho dân Do Thái bất cứ thứ gì. Đối với họ không có Thiên đàng hay Địa ngục, không có Thế giới bên kia, không có kiếp luân hồi mà chỉ có Thế giới thực tại cho tới ngày Tận thế – Ngày “thanh lý Thỏa ước” ? Phải chăng đây là 1 trong các luận điểm làm các giáo phái khác tức giận và tẩy chay họ ?
Các giáo sĩ Do Thái - những người đã "ký thỏa ước" với Chúa Trời ?
Trong quá khứ, dân Do Thái đã 2 lần nhận được sự “trả giá” này là :
Lần thứ nhất vào khoảng năm 1.200 TCN, họ đã chiếm lĩnh và thống trị vùng đất Canaan (lãnh thổ Israel ngày nay) trong suốt gần 700 năm cho tới khi bị đế quốc Babylon đánh bại và đuổi đi.
Lần thứ 2, vào năm 510, dân Do Thái đã được “hưởng ké” do 1 người Ả Rập theo đạo Do Thái, dưới sự bảo trợ của đế quốc Ba Tư đã trở thành vua thống trị toàn bộ bán đảo Ả Rập trong vòng 15 năm và sau đó bị đế quốc Byzantine tiêu diệt.
Còn ngày nay, có lẽ từ khi chính phủ Israen – hiện đang đại diện cho dân Do Thái – nhận được sự ủng hộ của nước Mỹ (nơi có dân Do Thái đông nhất trừ Israen), thì họ cho rằng đã đến lúc Chúa Trời “trả” cho chăng ? Họ đang hành động đúng như “giá trị” mà họ phải được hưởng sau chừng đó Thế kỷ đã “trả giá” ?
Xin không có lời kết vì sự việc vẫn còn tiếp diễn.
Người Do Thái trước họng súng của Phát xít Đức và người Palesti trước họng súng của lính Do Thái
Thành viên mới gia nhập
Tôi là Lê Mai Bình B6-K8-C11. Thành viên mới tinh của Út Trỗi đây. Thân mến gửi lời chào tới tất cả các bạn trường Trỗi.
Hôm qua 16/8/2008, tôi rất xúc động trước tình cảm thân thương của toàn thể các bạn K8, các bạn B6-K8 và nhất là 2 bạn Thái + Liên đã tới chia buồn và thắp nén hương tại bàn thờ bố chồng của tôi.
Thay mặt gia đình tôi xin chân thành cảm ơn các bạn.
Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2008
Tin chia buồn!
Được sự ủy thác của Ban liên lạc K8 và B6-K8, sáng nay Liên và Thái đã đến nhà Lê Mai Bình - 230 đường Lê Trọng Tấn để thắp hương tại bàn thờ bố chồng Mai Bình. Cụ mất ngày 4 tháng 8 nhưng do ở xa nên Mai Bình không thông báo cho bạn bè đến phúng viếng. Xin báo cáo: hai bạn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Thông tin ngoài lề: Bạn Việt Liên mang đến một quả mít na (từ vườn nhà) ngon cực. Thái đã tích góp số hạt với dự định nhân giống mít quý. Nếu ai hâm mộ món mít na xin đăng ký cây con từ khi còn là hột kẻo hết, loa loa!
Bổ túc: Tăng tốc toàn diện kết nối Internet

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2008
Lượm lặt: AK47 - Những điều ít được biết tới
Trong nền công nghiệp vũ khí thế kỷ XX, súng AK được tôn vinh như một kiệt tác. Người thiết kế chế tạo ra nó năm 1947 là một chuyên gia trẻ người Nga, lúc đó còn ít được ai biết tới: Mikhail Kalashnikov. Súng AK (Avtomat Kalashnikova) đã trở thành sự nghiệp lớn nhất của đời ông, giúp ông về sau lên tới Trung tướng, hai lần được phong danh hiệu Anh hùng Lao động, giải thưởng Stalin (năm 1949)…Xem tiếp
Thứ Năm, 14 tháng 8, 2008
"Đêm kỳ ảo Trung Hoa"
Xem người lại nghĩ đến ta
Cuốn cổ thư mở ra và mở ra mãi mãi. Hay có thể gọi đó là sách. Sách mở ra và mở ra mãi mãi. Người Trung Hoa mà đại diện ưu tú của họ là đạo diễn Trương Nghệ Mưu đã gửi tới toàn thế giới một thông điệp. Nội dung bản thông điệp đó là: Sách (văn hóa) là nền tảng duy nhất dẫn đường cho nhân loại. Cảnh đốt ngọn lửa Olympic Bắc Kinh thật giản dị nhưng thật kỳ vĩ. Một vận động viên cầm ngọn đuốc chạy dưới mặt trời. Vận động viên kia là một con người nhưng đó cũng là toàn bộ nhân loại. Cuốn cổ thư (sách) mở ra và dẫn đường cho nhân loại. Không có văn hóa, con người không tìm được lối đi, không tới được ánh sáng. Dân tộc Trung Hoa cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới đã phải đi qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Nhưng cái duy nhất có ý nghĩa còn lại với thế gian này chỉ là văn hóa. Chính vì thế mà Trương Nghệ Mưu thay mặt dân tộc Trung Hoa nói với thế giới về dân tộc mình là nói về nền văn hóa vĩ đại và đặc sắc của họ. Một sỗ hình ảnh trong đêm khai Olympic Bắc Kinh 2008 Trên nền tảng là cuốn cổ thư (văn hóa) những điều kỳ vĩ của nhân loại được sinh ra. Chúng ta không tìm thấy ở đó sự hận thù, không tìm thấy ở đó những cuộc chinh chiến, không tìm thấy ở đó máu chảy, không tìm thấy ở đó người thắng kẻ thua…Chúng ta chỉ tìm thấy ở đó sự kỳ vĩ của trí tuệ con người và chủ nghĩa nhân văn cao cả. Tôi không còn cách nào khác là gọi đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh là "Đêm kỳ ảo Trung Hoa". Với tư duy ấy và với tư tưởng ấy, dân tộc Trung Hoa sẽ làm được những điều trong tương lai mà chúng ta không tưởng tượng hết được. Sau những giây phút kinh ngạc, xúc động và kính phục đối với đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh, tôi bắt đầu nghĩ về dân tộc mình với một việc rất cụ thể: lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long sắp tới của chúng ta. Tôi có cơ sở để tin rằng chúng ta sẽ không làm được một lễ khai mạc cho kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đúng với tầm cỡ và ý nghĩa của sự kiện trọng đại này. Chúng ta phải thừa nhận mình còn rất kém cỏi và vụng về. Trong nhiều năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều đêm khai mạc các lễ hội diễn ra trong nước và chúng ta thất vọng. Tôi luôn luôn cảm thấy các đạo diễn hay tổng đạo diễn của những đêm khai mạc lễ hội hay đêm khai mạc các sự kiện lớn diễn ra trên đất nước ta rất lúng túng và không biết phải làm gì. Những đêm khai mạc như thế, chúng ta luôn luôn bị rơi vào một trong hai “bi kịch” chính sau đây: Một: Biến đêm khai mạc thành một sân khấu hội diễn quần chúng. Chúng ta thường cho diễn viên đóng những Anh hùng dân tộc đi đi lại lại, nói nói cười cười. Chúng ta tưởng như thế là tôn vinh các Anh hùng dân tộc. Nhưng hiệu quả hầu như ngược lại. Rồi xen vào đó là những màn minh họa các thời kỳ xây dựng, lao động và chiến đấu của địa phương đó hoặc là của cả dân tộc. Có những đêm khai mạc như thế còn kèm theo một lời bình dài như không thể kết thúc. Người viết lời bình như sợ tất cả những ai theo dõi không hiểu được cái gì đang diễn ra trước mắt họ nên viết như tường thuật vụ án. Đêm khai mạc Olympic Bắc Kinh hầu như không có một lời bình nào. Nhưng người Trung Hoa đã nói tất cả những gì cần nói về dân tộc họ và về thế giới này một cách giản dị nhưng vô cùng sâu sắc và kỳ vĩ. Hai: Biến đêm khai mạc thành một cuộc tiểu diễu hành. Những lễ khai mạc như thế làm cho những người thường xuyên phải đi dự sợ đến “bạc tóc”. Cuộc nào cũng giống cuộc nào. Một trong những màn diễn sáo mòn và gây mệt mỏi nhất là màn biểu diễn trống. Nếu chỉ một lần và ở một lúc nào đó thì được. Nhưng lần nào cũng thấy trống. Cứ như là chỉ người Việt
Theo Hạnh Nguyên
-------------------------------------
Chú em Dương Tiến Thắng, "K9" của Quang "xèng", Tôn Gia Quý k4, Võ Hùng k8 từ Leipzig gửi bài này về xin đăng lại trên Uttroi. Cũng là 1 trăn trở. Cảm ơn em!
Thứ Tư, 13 tháng 8, 2008
BỔ SUNG ẢNH ĐẠI TỪ
Thứ Ba, 12 tháng 8, 2008
Một số hình ảnh về Đại từ
Hôm nay K4 đã tổ chức chuyến đi về lại Yên Mỹ, Đại từ và trao tặng số sách giáo khoa cho các cháu học sinh nghèo của xã. Kết hợp, cũng là có dịp quay lại thăm nơi trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi đã từng sống và học tập tại nơi đây. Kịp ghi được một số hình ảnh để ACE nhớ về Đại từ.
Ơn thày
Được sống lại tuổi thơ
Về với thiên nhiên
MƯỢN ĐƯỜNG TRUYỀN
Thứ Hai, 11 tháng 8, 2008
Tin buồn
Bố vợ Nguyễn Tiến Long K8, vừa mất sáng nay 11/8/2008 tại Hà nội.
Tang lễ được tổ chức ngày thứ Tư 13/8/2008
Lễ viếng bắt đầu từ 8h30 đến 9h00 cùng ngày
Địa điểm: Nhà tang lễ Bệnh viện Bạch mai, Hà nội
BLL K8 HN kính báo.
Có một dân tộc như thế!
Có một dân tộc đã phải chịu số phận đau thương tủi nhục hàng ngàn năm như thế. (Phần 2 và Phần 3)
Có một dân tộc biết vượt lên số phận để có được ngày hôm nay như thế!
Không biết mọi người đã đọc chưa và có thích hợp với blog của uttroi không nữa, tôi cứ pot lên đây để bạn nào quan tâm thì tìm hiểu.
Mong những bạn không thích đánh cho chữ đại xá.










